vanban.org

Bản án 51/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố LVS và LVH phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo LVS 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 14/10/2023. Xử phạt bị cáo LVH 19 (mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 14/10/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN SÂM HOÀNG - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố LVS và LVH phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ML
TỈNH SL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 51/2024/HS-ST
Ngày 18-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lù Văn Mẳn.

Ông Tòng Văn Máy.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

LVS, sinh ngày 02/01/2000, tại CS, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Bản C, xã CS, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVV, sinh năm 1979 và con bà LTM, sinh năm 1982; có vợ là QTH, sinh năm 2002 (sống như vợ chồng), có một con lớn sinh năm 2018; Tiền án: Không; tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

LVH, sinh ngày 26/8/2002, tại IO, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu IB, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVX, sinh năm 1980 và con bà LTQ, sinh năm 1983; có vợ là QTL, sinh năm 2003, có một con lớn sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo LVS: Ông Nguyễn Phương Vũ. Luật sư. Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh SL. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo LVH: Ông Lò Văn Điệt. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh SL. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo LVS và LVH bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 13 giờ 40 phút ngày 14/10/2023, tại: Tiểu khu 4, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL, Công an phát hiện và bắt quả tang LVS, sinh ngày 02/01/2000 ở bản Chiến, xã CS, huyện ML và LVH, sinh ngày 26/8/2002, ở tiểu khu Ít Bon, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

LVH tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp 01 gói nilon được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, LVS và LVH khai là Heroine để sử dụng;

Ngày 14/10/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do LVS và LVH tự giác giao nộp:

01 gói nilon được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,12 gam, lấy 0,12 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu HS;

Cơ quan Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 2452/KL-KTHS ngày 17/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh SL, kết luận:

Mẫu ký hiệu HS là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,12 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo LVS và LVH, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra LVS và LVH khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 14/10/2023 LVS ở bản Chiến, xã CS, huyện ML, tỉnh SL gặp LVH ở tiểu khu Ít Bon, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL rủ góp tiền đi mua ma túy về sử dụng, LVH nhất trí. Hai người đi bộ đến khu vực sau nhà xác bệnh viện huyện ML. Tại đây hai người gặp một người dân tộc thái không biết tên, địa chỉ hỏi mua được ma túy, với giá 200.000, đồng 01 gói nilon màu trắng. Sau khi có ma túy hai người lấy mỗi người một ít ma túy và tự sử dụng, số còn lại LVH cất vào túi quần bên phải, hai người đi về đến khu vực tiểu khu 4, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL. Hồi 13 giờ 40 phút ngày 14/10/2023 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

2

Về nguồn gốc ma túy LVS và LVH khai mua của một người dân tộc thái không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVS và LVH đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 15/CT-VKS-ML ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo LVS và LVH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố LVS và LVH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt LVS từ 14 đến 22 tháng tù;

Xử phạt LVH từ 14 đến 22 tháng tù.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng (đều được niêm phong).

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, người bào chữa, nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Những người bào chữa cho các bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến

3

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo LVS và LVH thừa nhận: Hồi 13 giờ 40 phút ngày 14/10/2023, tại tiểu khu 4, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,12 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: LVS và LVH đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Đều thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Xét về vai trò đồng phạm: Bị cáo LVS với vai trò chủ mưu, đã chủ động rủ rê bị cáo LVH tham gia mua, cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự để xem xét lên mức hình phạt cho các bị cáo.

. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng (đều được niêm phong).

Về nguồn gốc ma túy LVS và LVH khai mua của một người dân tộc thái không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:

Đối với hành vi của LVS và LVH sử dụng ma túy. Được xác định LVS và LVH cùng nhau đi mua để sử dụng, khi chia ma túy để sử dụng thì mỗi người tự

4

sử dụng riêng. LVS và LVH đều không có ý thức cung cấp ma túy cho người khác và nhằm đưa ma túy vào cơ thể của nhau. Nên không có dấu hiệu của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời các bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố LVS và LVH phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo LVS 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 14/10/2023.

Xử phạt bị cáo LVH 19 (mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 14/10/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 14/10/2023).

Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo LVS và LVH phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/01/2024.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ