- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cháng Nhè K tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cháng Nhè K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 29/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Khoàng Văn Hặc
2. Ông Lò Trung Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phìn Đại Quảng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Cháng Nhè K, tên gọi khác: không; sinh năm: 1955 tại Điện Biên;
Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cháng Tùng P và bà Vừ Thị P1 ( đều đã chết); Bị cáo có vợ là Giàng Thị M và có 08 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý về hành vi vi phạm gì; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/5/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lý A C: Ông Lý A C1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Có mặt)
- Người phiên dịch: Ông Thào A C2, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn M, huyện M (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, khi Cháng Nhè K đang đi trên đường thuộc bản Huổi Quang 2, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng M2 phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ và Công an xã M bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ của K 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng có khối lượng 2,19 gam và 01 gói nilon màu xanh miệng túi có nẹp nhựa chứa 03 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 0.28 gam; Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của K: 01 chiếc điện thoại di động hãng S, hiệu Galaxy A13 màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 350013883933151/01; IMEI 2: 352270633933158/01, bên trong có 01 thẻ sim mạng Viettel số thuê bao 0961662751, ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu vàng; 01 ví vải màu đen, 01 túi vải màu vàng, 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng bên trong có ba mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở. Kinh khai nguồn gốc số ma túy trên có được là do chiều ngày 20/5/2024 bị cáo đến khu suối thuộc bản Huổi Quang 2, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên mua được của một người đàn ông không rõ lai lịch được 01 gói Heroine với giá 150.000 đồng, bị cáo xin thêm của người này được 03 viên Methamphetamine. Mua được ma tuý K mang về lán nương và mỗi ngày lấy một ít Heroine ra để sử dụng. Trưa ngày 23/5/2024 K mang toàn bộ số ma túy trên theo người đi về thì bị bắt. Mục đích bị cáo mua ma túy về để sử dụng. Các mảnh giấy bạc bị cáo dùng để sử dụng ma túy.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đề nghị được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế xã hội.
Bản cáo trạng số: 39/CT-VKSMC ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Cháng Nhè K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cháng Nhè K với mức hình phạt từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 2,19 gam Heroine đã sử dụng giám định hoàn lại 1,94 gam; 0,28 gam Methamphetamine đã sử dụng giám định hoàn lại 0,19 gam; 01 túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 03 mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hãng S, hiệu Galaxy A13 màu đen, bên trong có 01 thẻ sim mạng Viettel số thuê bao 0961662751; 01 ví vải màu đen, 01 túi vải màu vàng. Ngoài ra, còn đề nghị tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã nhiều tuổi, nhân thân tốt, nhận thức có phần hạn chế nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Về vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết mình vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 11h ngày 23/5/2024, tại bản Huổi Quang 2, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên Cháng Nhè K đã tàng trữ 2,19 gam Heroine và 0,28 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: bắt người phạm tội quả tang; niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, tại Kết luận giám định, các lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
H và M1 đều là chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy thu giữ của bị cáo là 2,47 gam tương đương khối lượng ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi tàng trữ 02 chất ma túy nêu trên của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của K đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo Cháng Nhè K có tội, bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà đã truy tố.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi trên của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo phạm tội xuất phát từ động cơ nghiện chất ma túy, coi thường pháp luật; Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà đề xuất áp dụng đối với bị cáo là phù hợp cần chấp nhận, ý kiến của người bào chữa cũng hợp lý cần xem xét khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, do bị cáo là đối tượng có thu nhập thấp, không có tài sản gì có giá trị lớn, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 2,19 gam Heroine đã sử dụng giám định hoàn lại 1,94 gam; 0,28 gam Methamphetamine đã sử dụng giám định hoàn lại 0,19 gam; 01 túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 03 mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở vì các vật chứng này là các chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, vi phạm pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hãng S, hiệu Galaxy A13 màu đen, bên trong có 01 thẻ sim mạng Viettel số thuê bao 0961662751; 01 ví vải màu đen, 01 túi vải màu vàng vì các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm của vụ án vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế xã hội.
Về vấn đề khác có liên quan: Cháng Nhè K khai người bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với người này. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị xử phạt hành chính đúng quy định.
Đối với 01 phong bì niêm phong vật chứng là tài liệu phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án không phải là vật chứng của vụ án hiện Cơ quan điều tra Công an huyện M đã chuyển kèm vật chứng sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà không có giá trị sử dụng, việc tiêu hủy 01 phong bì này không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án, nên đề nghị Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà tiêu hủy 01 phong bì niêm phong này khi tiêu hủy vật chứng của vụ án.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện M; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người này đều đảm bảo tính hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Cháng Nhè K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Cháng Nhè K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 23/5/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Tịch thu tiêu hủy: 2,19 gam heroine đã sử dụng giám định hoàn lại 1,94 gam; 0,28 gam Methamphetamine đã sử dụng giám định hoàn lại 0,19 gam; 01 túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp xoáy, 03 mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hãng S, hiệu Galaxy A13 màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 350013883933151/01; IMEI 2: 352270633933158/01, bên trong có 01 thẻ sim mạng Viettel số thuê bao 0961662751, ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu vàng; 01 ví vải màu đen, 01 túi vải màu vàng có dòng chữ YODY. Tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.)
4. Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/8/2024).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Mường Chà; - Công an huyện Mường Chà; - Chi cục THADS huyện Mường Chà; - Nhà tạm giữ CA huyện Mường Chà; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; NBC; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |