vanban.org

Bản án 51/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 07/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Tấn N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 2584/KL-KTHS ngày 24/11/2023. (Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC NH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Tấn N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST.
Ngày: 07 - 3 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hoa.

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án. Điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai gồm: Bị cáo, Thư ký, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Tấn N, sinh năm 1995 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi sinh sống: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần C và bà Lê Thị T; Chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 08/5/2015 bị Công an huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Thuê, mượn hoặc cho người khác thuê, mượn chứng minh nhân dân để thực hiện hành vi trái pháp luật”. Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/11/2023 và chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L.

(Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Tấn N là đối tượng sử dụng ma túy từ tháng 9/2023 đến ngày bị bắt. Do muốn có ma tuý để sử dụng, vào khoảng 10 giờ ngày 17/11/2023, N điều khiển xe mô tô biển số 72T2-7837, nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen từ xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến lô cao su thuộc ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai gặp 01 người đàn ông tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, N đưa cho H 200.000 đồng, H đưa cho N 01 viên nén màu trắng có kích thước 0,3cm x 0,5cm được gói trong 01 giấy bạc màu xanh. Sau đó, N cất giấu viên ma tuý trên vào trong 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Dona Golg màu trắng đỏ để trong túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô trên về nhà. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô trên đến đoạn đường thuộc ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, thì N bị lực lượng Công an xã B phối hợp với Tổ tuần tra Cảnh sát giao thông Công an huyện L yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, lực lượng công an đã phát hiện gói ma túy nêu trên N đang cất giấu trong túi quần bên phải nên lập biên bản phạm tội quả tang cùng vật chứng chuyển đến Công an huyện L để điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận giám định số 2584/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1442 gam loại Heroine.

Vật chứng:

+ 01 phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 2584/KL-KTHS ngày 24/11/2023.

+ 01 xe mô tô biển số 72T2-7837 nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen tạm giữ của Trần Tấn N.

Tại cáo trạng số 62/CT-VKS-LT ngày 05 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Trần Tấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Tấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tấn N từ 16 đến 18 tháng tù.

Xử lý vật chứng:

+ 01 phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 2584/KL-KTHS ngày 24/11/2023 đề nghị tịch thu tiêu hủy.

+ 01 xe mô tô biển số 72T2-7837 nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen tạm giữ của Trần Tấn N. N khai mua xe mô tô trên của 01 người bạn tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) vào khoảng tháng 5/2023 với giá 9.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác minh do anh Phạm Duy A, sinh năm 1990 ngụ tại thôn Đ, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đứng tên chủ sở hữu. A đã cầm cố xe mô tô trên ở 01 tiệm cầm đồ (không rõ tên, địa chỉ) ở thành phố B vào tháng 01/2023. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.

Đối với người đàn ông tên H có hành vi bán ma túy cho N nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, nên có cơ sở xác định: Trần Tấn N là đối tượng sử dụng ma túy từ tháng 9/2023 đến ngày bị bắt. Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/11/2023 tại ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, N thực hiện hành vi tàng trữ 0,1444 gam ma túy loại Heroine thì bị lực lượng Công an xã B phối hợp với Tổ tuần tra Cảnh sát giao thông Công an huyện L phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để xử lý theo thẩm quyền. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Tấn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015) như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma tuý và trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tiếp tay cho đối tượng khác thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức rất rõ về tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội, cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 2584/KL-KTHS ngày 24/11/2023. Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Riêng 01 xe mô tô biển số 72T2-7837 nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen tạm giữ của Trần Tấn N nhưng chưa xác định được nguồn gốc. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với người đàn ông tên H có hành vi bán ma túy cho N nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Vì lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Trần Tấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Tấn N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 17/11/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 2584/KL-KTHS ngày 24/11/2023. (Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/02/2024).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Tấn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ