vanban.org

Bản án 51/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Võ Đình Ch.

Về nuôi con chung: Bà T và ông Ch có 02 người con chung Võ Đình Ph, sinh ngày 24-4-2016 và Võ Thị Khánh A, sinh ngày 06-02-2018. Giao con chung Võ Đình Ph, sinh ngày 24-4-2016 và Võ Thị Khánh A, sinh ngày 06-02-2018 cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Võ Đình Ch"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Võ Đình Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2024
“V/v Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Huy Xuân.

2. Ông Lê Ngọc Phi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 25A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1996.

HKTT: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Chỗ ở hiện nay: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Võ Đình Ch, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

(Bà T, ông Ch vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm, bà T và ông Võ Đình Ch mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới năm 2015 và đăng ký kết hôn ngày 27-6-2016 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, ông Ch không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu rồi về kiếm cớ gây gổ, đánh bà T nhiều lần. Vì thương con còn nhỏ nên bà T đã cố gắng chịu đựng để tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, qua thời gian ông Ch vẫn không sửa đổi, sống không có trách nhiệm với gia đình. Khoảng cuối tháng 01-2024, ông Ch lại hành hung bà T, vì quá hoảng sợ nên bà T đã xin phép cha mẹ của ông Ch để dẫn theo 02 người con chung về sống tại nhà cha mẹ ruột tại tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho đến nay. Trong thời gian này ông Ch cũng như gia đình hai bên cũng đã tìm cách hòa giải nhưng bà T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên không đồng ý quay về sống chung với ông Ch. Nay, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Bà T xin được ly hôn với ông Ch.

Về nuôi con chung: Bà T và ông Ch có 02 người con chung Võ Đình Ph, sinh ngày 24-4-2016 và Võ Thị Khánh A, sinh ngày 06-02-2018. Bà T có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Võ Đình Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy không lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Giao 02 người con chung Võ Đình Ph, sinh ngày 24-4-2016 và Võ Thị Khánh A, sinh ngày 06-02-2018 cho bà T được quyền nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Bà T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Bà T và ông Ch sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay bà T yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của ông Ch là xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Ch đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án:

. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà T và ông Ch trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27-6-2016 tại UBND xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Theo bà T nguyên nhân mâu thuẫn do ông Ch không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu rồi về kiếm cớ gây gổ, đánh bà T nhiều lần. Từ cuối tháng 01-2024, bà T dẫn theo 02 người con chung về sống với cha mẹ ruột tại địa chỉ tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho đến nay.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà T, Tòa án đã triệu tập ông Ch để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng ông Ch vẫn không đến. Ngoài ra, theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn giữa bà T và ông Ch là có thật, hiện bà T đang sinh sống cùng 02 người con chung tại địa chỉ tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu còn ông Ch sinh sống tại địa chỉ tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông Ch ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà T được ly hôn với ông Ch.

. Về nuôi con chung: Bà T và ông Ch có 02 người con chung là. Võ Đình Ph, sinh ngày 24-4-2016 và Võ Thị Khánh A, sinh ngày 06-02-2018. Xét thấy, từ khi bà T và ông Ch ly thân, bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung, trong 02 người con chung có cháu Võ Đình Ph hiện đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sống với bà T. Do đó, cần áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 người con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Võ Đình Ch.

2. Về nuôi con chung: Bà T và ông Ch có 02 người con chung Võ Đình Ph, sinh ngày 24-4-2016 và Võ Thị Khánh A, sinh ngày 06-02-2018.

Giao con chung Võ Đình Ph, sinh ngày 24-4-2016 và Võ Thị Khánh A, sinh ngày 06-02-2018 cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu ông Võ Đình Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Võ Đình Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001977 ngày 28 tháng 3 năm 2024; bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp xong án phí DSST.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ