vanban.org

Bản án 51/2024/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 01/04/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nh n một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T; sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 03/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, t nh Bình Thu n.

C c Điều 207, 209, 212, 609; khoản 1 Điều 630; Điều 634 và 649 Bộ lu t dân sự 2015; Tuyên bố di chúc bà Lý Thị N4 đã l p ngày 11/10/2018, là vô hiệu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Nguyễn Thị X - Bị đơn Nguyễn Thị T "Tranh chấp thừa kế, tranh chấp quyền sở hữu tài sản""
  • Tòa quyết gì? Chấp nh n một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T; sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 03/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, t nh Bình Thu n.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/DS-PT
Ngày 01-4-2024
V/v tranh chấp thừa kế,
tranh chấp quyền sở hữu tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

Các Thẩm phán: 1. Bà phạm Phong Lan.

2. Ông Nguyễn Lê Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái Thư Toà n nh n d n t nh B nh Thu n.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Ông Đinh Văn Lai, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong c c ngày 25 th ng 3 và ngày 01 th ng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2022/TLPT-DS ngày 04 th ng 3 năm 2022 về việc: “Tranh chấp về thừa kế, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 03/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh bị kháng cáo.

Thông báo hoãn phiên tòa phúc thẩm số 87/TB-TDS ngày 25 tháng 10 năm 2023 quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/ QĐ- PT ngày 31/01/2024; Quyết định ngừng phiên tòa số 09/2024/QĐPT ngày 26/02/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X sinh năm 1964; địa ch : Thôn D, xã M huyện T t nh B nh Thu n; Có mặt.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lê Văn L, là Lu t sư của Công ty L4 thuộc Đoàn Lu t sư t nh B; Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T sinh năm 1967; Địa ch : Thôn D, xã M, huyện T t nh B nh Thu n; vắng mặt.

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Phương N sinh năm 1981; địa ch : Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ t nh Bình Thu n; Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T: Ông Nguyễn Phương Đ, là Lu t sư của Chi nhánh Công ty L5 thuộc Đoàn lu t sư thành phố H; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị M sinh năm 1959; địa ch : Thôn D xã M huyện T t nh B nh Thu n; Có mặt.

2. Ông Nguyễn Trung N1 sinh năm 1965; địa ch : Thôn L xã H huyện H t nh B nh Thu n; vắng mặt.

3. Ông Ngô Hữu T1 sinh năm 1989; Vắng mặt; Có đơn xin vắng mặt.

4. Bà Ngô Thị Phương C sinh năm 1993; Vắng mặt; Có đơn xin vắng mặt.

5. Bà Ngô Thị Phương D sinh năm 2001; Vắng mặt; Có đơn xin vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà C và bà D: Ông Ngô T2, sinh năm 1958; vắng mặt.

Cùng trú địa ch : Thôn A xã B huyện T t nh B nh Thu n.

6. Ông Nguyễn Đức C1 sinh năm 1975; địa ch : Thôn D xã M huyện T t nh B nh Thu n; Vắng mặt; ông C1 Ủy quyền tham gia tố tụng cho bà X.

7. Ông Nguyễn Ngọc D1 sinh năm 1983; địa ch : Thôn E xã M huyện T t nh B nh Thu n; Vắng mặt; Có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Lê Thị Diễm N2 sinh năm 1972; Địa ch : Thôn C xã M huyện T t nh B nh Thu n; Vắng mặt.

2. Chị Hồ Thị T3 sinh năm 1972; Địa ch : Thôn B xã M huyện T t nh B nh Thu n; vắng mặt.

3. Ông Phạm Văn N3 sinh năm 1932; Địa ch : Tổ d n phố A thị trấn M’đră huyện M’đră t nh Đă Lă ; Vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Văn H sinh năm 1949; Vắng mặt.

5. Bà Phan Thị Ngọc L1 sinh năm 1960; Vắng mặt.

Cùng địa ch : Thôn D xã M huyện T t nh B nh Thu n.

6. Ông Nguyễn L2 sinh năm 1979; Vắng mặt.

7. Bà Trần Thị Mỹ H1 sinh năm 1966; Có mặt.

Cùng địa ch : Thôn E xã M huyện T t nh B nh Thu n.

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T kháng cáo ngày 13/12/2021.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản n sơ thẩm thì nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Trong đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn cũng như người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn đều trình bày như sau:

Nguyên đơn hởi iện yêu cầu Tòa n xem xét công nh n phần nội dung di chúc mà bà L Thị N4 đã l p ngày 11/10/2018 để lại cho bà Nguyễn Thị X di sản là quyền sử dụng diện tích hoảng 616 2m2 đất ở nông thôn và đất trồng c y hàng năm thuộc một phần diện tích của thửa đất số 371 và 371A tờ bản đồ số 23 giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số B.446295 cấp ngày 13/01/1993 mang tên L Thị N4 (Nay là thửa đất số 150 tờ bản đồ số 33 mảnh trích đo địa chính số 38/2019 do Văn phòng Đ2 thực hiện); tọa lạc tại Thôn E, xã M huyện T t nh B nh Thu n. Riêng đối với tài sản trên đất là căn nhà cấp 4 th hi hởi iện có căn nhà nhưng đến nay căn nhà này đã được anh Nguyễn Ngọc D1 th o dỡ nên bà X hông có yêu cầu g đối với tài sản trên đất. Ngoài ra, bà X hông đồng với yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc l p của những người liên quan trong vụ n. Bởi v :

Bà L Thị N4 và ông Nguyễn Văn L3 là cha mẹ của bà Nguyễn Thị X. Bà N4 và ông L3 có 05 người con gồm bà Nguyễn Thị M, bà X, ông Nguyễn Trung N1, bà Nguyễn Thị Đ1 và bà Nguyễn Thị Tuyết . Ông L3 chết năm 1968; bà Đ1 chết năm 2016 và bà N4 chết năm 2018. Cha mẹ của bà N4 cũng đã chết từ l u hông rõ thời gian.

Năm 1993, bà L Thị N4 được UBND huyện T cấp quyền sử dụng diện tích đất 430m2 đất tại thửa 371 và 1.090m2 đất tại thửa 371A cùng tờ bản đồ số 23 xã Đ cũ (nay là xã M) giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số B.446295 ngày 13/01/1993 mang tên L Thị N4. Bà N4 quản l sử dụng đất đến năm 2003 th chuyển nhượng cho bà Trần Thị Mỹ H1 diện tích 611m2; diện tích còn lại một m nh bà N4 tiếp tục quản l sử dụng trên đất có 01 căn nhà gỗ bà N4 ở. Khoảng năm 2013 – 2014, bà N4 cao tuổi sức yếu nên có định chuyển nhượng nhà đất này về ở gần với chị em bà X để dễ chăm sóc bà N4 lúc tuổi già. Bà X thỏa thu n nh n chuyển nhượng toàn bộ nhà đất còn lại của bà N4 với số tiền 400.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng th giữa bà X với bà N4 ch thỏa thu n bằng lời nói với nhau và bà N4 giao giấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho bà X cất giữ chứ hông viết giấy tờ hay hợp đồng g . Tuy nhiên chị em trong nhà th ai cũng biết. Sau hi chuyển nhượng nhà đất bà N4 lấy tiền x y căn nhà nhỏ ở gần bà X với bà M còn nhà đất bà X nh n chuyển nhượng của bà N4 th đóng cửa chứ hông sử dụng.

Khoảng cuối năm 2017 bà X thấy bà N4 sức hỏe ngày càng yếu nên thống nhất đến UBND xã Đ (cũ) để làm thủ tục chuyển quyền sang tên cho bà X đối với diện tích đất bà N4 đã chuyển nhượng. Bà M, ông N1 đều thống nhất đến Ủy ban Xã thủ tục cho bà X ch có bà T hông đồng . Bà T cho rằng nhà đất của bà N4 thì bà N4 quyết định bà T hông biết nên hông thủ tục. Từ đó chưa làm thủ tục đăng chuyển quyền sang tên cho bà X theo quy định của ph p lu t.

Đến gần cuối năm 2018 bà N4 sức hỏe càng yếu nên để hợp thức hóa việc chuyển nhượng nhà đất trước đ y; bà N4 l p di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho bà X được hưởng thừa ế; di chúc l p ngày 11/10/2018, có bà Hồ Thị T3 và bà Lê Thị Diễm N2 làm chứng. Đến ngày 18/10/2018 bà N4 chết lo xong việc tang ma thì bà X tiếp tục đến Ủy ban nh n d n Xã làm thủ tục chuyển quyền sang tên nhà đất nhưng bà T vẫn hông đồng

thủ tục. Do đó bà X mới hởi iện bà T.

Riêng đối với c c thửa đất lúa số 486 và 488 cùng tờ bản đồ số 7 xã Đ; giấy chứng nh n số B.446295 ngày 13/01/1993 mang tên L Thị N4 thì bà N4 cũng đã định đoạt trong di chúc để lại quyền sử dụng cho bà Nguyễn Thị X. Tuy nhiên, bà X x c định hai thửa đất lúa này là cấp theo nh n hẩu cho hộ gia đ nh nên bà X hông yêu cầu Tòa n công nh n hiệu lực của di chúc phần định đoạt của bà N4 đối với hai thửa đất lúa; bà X sẽ tự thỏa thu n giải quyết ph n chia với c c anh chị em trong gia đ nh. Nếu bên nào hông đồng th có quyền hởi iện để yêu cầu ph n chia hai thửa đất lúa này bằng một vụ n h c chứ bà X hông yêu cầu Tòa n giải quyết trong vụ n này.

Thể hiện trong các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền đều trình bày:

Bên bị đơn hông đồng với yêu cầu hởi iện của bên nguyên đơn. Bên bị đơn vẫn giữ yêu cầu phản tố đối với bà X. Yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đ nh phần diện tích đất còn lại theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất là 909m2 v tổng diện tích được cấp là 1.520m2 nhưng đã chuyển nhượng cho bà H1 611m2 cho 06 người là bà N4, ông N1, bà M, bà T, bà X, bà Đ1 (03 người con bà Đ1 được hưởng). Phần của bà N4 th chia thừa ế theo quy định của ph p lu t cho 05 người con. Đồng thời yêu cầu tuyên bố di chúc bà N4 đã l p là vô hiệu. Bởi v :

Bà Nguyễn Thị T x c định thửa đất bà N4 để lại di chúc cho bà X thừa ế là tài sản chung của hộ gia đ nh chứ hông phải tài sản riêng của bà N4. Tài sản này có sự đóng góp công sức của ông N1 và bà T. Khi gia đ nh bà T đi inh tế mới từ P lên T th chính quyền có cấp cho gia đ nh bà T một thửa đất ở Thôn D xã Đ cũ. Gia đ nh bà T đến ở trên đất lúc bấy giờ có bà N4, ông N1, bà M, bà X, bà Đ1 và bà T. Ở một thời gian th bà N4 b n mảnh đất này để về Đà Nẵng làm ăn. Lúc đó theo bà N4 về Đà Nẵng có ông N1, bà Đ1 và bà T; còn bà M và bà X đã l p gia đ nh ra riêng ở lại xã Đ. Về Đà Nẵng được hoảng hơn năm th làm ăn thất bại nên bà N4 mới đưa anh em bà T vào lại xã Đ nhưng ch có bà T với ông N1 theo vào chứ bà Đ1 ở lại Quảng Nam. Khi vào lại xã Đ th gia đ nh bà T mua một thửa đất ở phía sau UBND xã b y giờ để ở. Gia đ nh lúc này ch còn bà N4, ông N1 và bà T cùng đi làm dành dụm để trả tiền mua đất v lúc đó người b n đất cho trả dần chứ gia đ nh hông có tiền trả một lần. Gia đ nh bà T ở trên thửa đất này hoảng gần 02 năm th b n lại cho bà M1 ( hông rõ họ tên và hiện nay bà M1 đã chết). Lúc này ông N1 và bà T vẫn chưa l p gia đ nh. Sau hi b n đất cho bà M1 th mẹ con bà T mới mua lại thửa đất tranh chấp hiện nay của ông H và chuyển ra đó ở. Thời điểm này cũng ch có bà N4, ông N1 và bà T ở trên đất sau đó bà Đ1 mới từ Đà Nẵng vào. Khi mua lại đất của ông H thì trên đất có 01 căn nhà tranh nhưng đã cũ ỹ dột n t; bà T với bà N4 phải đi cắt tranh về lợp lại. Một thời gian sau bà T có chồng và theo chồng về Đ, khi mang thai người con đầu mới về ở với bà N4 để sinh con. Như v y thửa đất bà N4 để lại di chúc cho bà X được thừa ế là tài sản chung của hộ gia đ nh chứ hông phải tài sản riêng của bà N4 giấy chứng nh n quyền sử dụng đất là cấp cho hộ bà N4 theo như sổ đỏ đã thể hiện. Di chúc của bà N4 l p ch vài ngày trước hi bà N4 chết hông còn đủ sức hỏe minh mẫn bà N4 hông biết chữ đang bị bệnh nặng nên bị hạn chế về nh n thức. Sau hi l p di chúc th di chúc cũng chưa được công chứng chứng thực theo quy định của bộ lu t d n sự.

Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà Nguyễn Thị M là con của bà L Thị N4 và là chị của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị X. Khi c c anh chị em của bà M đều l p gia đ nh ra ở riêng th bà N4 ở một m nh trong căn nhà cấp 4 x y dựng trên thửa đất ở Thôn E xã M huyện T. Khoảng năm 2003 bà N4 chuyển nhượng một phần diện tích thửa đất cho vợ chồng bà Trần Thị Mỹ H1 để lấy tiền dưỡng già phần diện tích còn lại và căn nhà th bà N4 vẫn sử dụng. Khoảng năm 2017 hi thấy bà N4 ngày càng già yếu th bà M có khuyên bà N4 chuyển nhượng nhà đất lấy tiền về x y một căn nhà nhỏ ở gần bà M với bà X để hai bà thu n tiện chăm sóc bà N4. Sau đó bà N4 có nói với bà M là đã chuyển nhượng nhà đất cho bà X với gi 400.000.000 đồng. Khi đến UBND xã làm thủ tục chuyển quyền sang tên cho bà X thì bà M với ông N1 đều thống nhất đi và tên; riêng ch có bà T là hông đồng . Ngoài ra bà N4 trước hi chết có để lại di chúc cho bà X hay không thì bà M hông rõ. Trong vụ n này th bà M không có yêu cầu ph n chia di sản hay tranh chấp g với bà X và bà T về di sản của bà N4 để lại.

Ông Nguyễn Trung N1 trình bày: Ông Nguyễn Trung N1 là em của bà Nguyễn Thị X và là anh của bà Nguyễn Thị Tuyết . Ông N1 biết rõ nguồn gốc của thửa đất bà L Thị N4 để lại di chúc cho bà X bởi v thửa đất này do bà N4 và ông N1 bỏ tiền ra nh n sang nhượng lại của người h c chứ hông phải đất do nhà nước cấp cho hộ gia đ nh. Thời điểm nh n sang nhượng th gia đ nh ch có ông N1 là người ở với bà N4 nên có công sức đóng góp; còn bà M, bà X thì l p gia đ nh ra ở riêng; bà Đ1 ở Đà Nẵng còn bà T bỏ đi làm ăn ở nhiều nơi nên hông có đóng góp g trong việc mua đất. Ông N1 ở với bà N4 một thời gian sau mới l p gia đ nh về huyện H làm ăn sinh sống còn bà N4 vẫn tiếp tục ở một m nh trên thửa đất. Khi bà N4 tuổi cao sức yếu th bà N4 đã chuyển nhượng toàn bộ nhà đất đang tranh chấp cho bà X lấy tiền x y căn nhà nhỏ gần bà X để bà X tiện bề chăm sóc cho bà N4. Ông N1 biết việc bà N4 chuyển nhượng nhà đất cho bà X và thống nhất chứ hông có iến g . Năm 2017 ông N1 có về Đ để cùng bà N4, bà M và bà X đến UBND xã thủ tục chuyển quyền sang tên thửa đất của bà N4 cho bà X ch có một m nh bà T là hông đồng . Như v y ông N1 x c định thửa đất và căn nhà bà N4 để di chúc cho bà X là tài sản riêng của bà N4 chứ hông phải tài sản chung của hộ gia đ nh bà T hông có công sức đóng góp g trong hối tài sản này. Do v y việc bà N4 định đoạt tài sản này như thế nào là quyền của bà N4. Trong vụ n này th ông N1 không có yêu cầu ph n chia di sản hay tranh chấp g với bà X và bà T về di sản của bà N4 để lại.

Anh Ngô Hữu T1, chị Ngô Thị Phương C và chị Ngô Thị Phương D đều trình bày: Anh Ngô Hữu T1 chị Ngô Thị Phương C và chị Ngô Thị Phương D là con của bà Nguyễn Thị Đ1 nên gọi bà X và bà T bằng d . Bà Đ1 mẹ của c c đương sự đã chết năm 2016. Bà L Thị N4 là mẹ của bà Đ1 chết năm 2018 có để lại di sản là nhà đất. Theo quy định của ph p lu t th anh T1 chị C và chị P sẽ được hưởng phần di sản mà bà Đ1 được hưởng của bà N4 vì bà Đ1 chết trước bà N4. Diện tích đất của bà N4 để lại có chiều ngang là 9 5 mét ngang theo mặt tiền đường chia đều cho 05 người con th mỗi người được nh n 1 9 mét ngang. Do v y anh T1 chị C và chị D có yêu cầu độc l p trong vụ n và yêu cầu được nh n phần di sản của bà N4 là trị gi của 1 9 mét theo chiều ngang của thửa đất.

Anh Nguyễn Đức C1 trình bày: Anh Nguyễn Đức C1 là con của bà Nguyễn Thị M, anh C1 gọi bà L Thị N4 là bà ngoại gọi bà T và bà X là dì. Anh C1 được gửi sang ở với bà N4 từ nhỏ cho đến lớn nên có tên trong sổ hộ hẩu của bà N4. Từ nhỏ anh C1 theo bà N4 từ P lên xã Đ ở theo diện đi inh tế mới. Ở Đức T n một thời gian th bà N4 b n nhà về Đà Nẵng làm ăn sinh sống lúc đó có đưa anh C1 đi cùng. Ở Đà Nẵng một thời gian sau đó quay về lại Đ, mua nhà đất của ông H để ở. Lúc mua nhà đất th chủ yếu bà N4 bỏ tiền ra mua chứ hông có ai đóng góp g ; trong hộ gia đ nh lúc đó có ông N1 và anh C1, còn bà T đang ở Đ sau hi mua đất đai nhà cửa xong th bà T mới về Đ. Đến hoảng năm 1998 anh C1 l p gia đ nh nhưng vẫn ở chung với bà N4 hộ hẩu vẫn chung chứ chưa chuyển hẩu. Khi đi làm ăn xa anh C1 có biết việc bà N4 chuyển nhượng đất đai nhà cửa lại cho bà X. Anh C1 x c định từ nhỏ lớn lên được bà N4 nuôi dưỡng cho ăn học chứ hông có công sức đóng góp g trong hối tài sản nhà đất do bà N4 đứng tên. Do đó trong vụ n này anh C1 hông có yêu cầu ph n chia tài sản đất đai nhà cửa g ; cũng hông có yêu cầu đôc l p hay tranh chấp g h c với c c đương sự trong vụ n.

Anh Nguyễn Ngọc D1 trình bày: Anh Nguyễn Ngọc D1 là con của bà Nguyễn Thị X, anh D1 gọi bà L Thị N4 là bà ngoại và bà T là d . Trước đ y bà X có nh n chuyển nhượng của bà Ngô Thị N5 diện tích đất chiều ngang hoảng 6 mét chiều dài hết lô đất tại Thôn E xã Đ có vị trí s t ranh với đất bà N4 hiện nay đang tranh chấp trong vụ n. Sau hi ết hôn vợ chồng anh C1 ở với bà X đến hoảng năm 2010 th bà X cho vợ chồng anh C1 diện tích đất này để làm nhà ra riêng nhưng ban đầu ch x y i ốt làm tiệm b n hàng chứ chưa x y nhà. Năm 2012 vợ chồng anh C1 làm nhà nhưng do diện tích đất nh n chuyển nhượng của bà N5 hông được vuông vứt phía sau bị hẹp nên hi x y nhà anh C1 có xin bà N4 cho anh C1 phần đất s t bên chiều ngang hoảng ½ mét; điểm đầu và điểm cuối vừa bằng với chiều dài của phần móng nhà chứ hông nhiều. Lúc cho đất th bà N4 vẫn đang còn ở trên đất và cũng ch nói miệng với nhau chứ hông l p giấy tờ g ; trong gia đ nh ch có bà ch u biết với nhau qu tr nh làm nhà hông thấy ai đến ngăn cản hay tranh chấp g . Anh C1 x c nh n phần diện tích đất làm nhà của anh C1 hiện nay có một phần diện tích thuộc giấy chứng nh n quyền sử dụng đất do bà N4 đứng tên nhưng đã được bà N4 tự nguyện cho tặng anh C1 đã x y nhà và ở ổn định nên đối với tranh chấp giữa bà X với bà T thì anh C1 hông có iến gì.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 03/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, đã quyết định:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 và 5 Điều 26; hoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Các Điều 146 147 157 165 203 227 và 228 Bộ lu t Tố tụng D n sự;

- C c Điều 207 209 212 609; khoản 1 Điều 630; Điều 634 và 649 Bộ lu t d n sự 2015;

- Các khoản 1 2 6 Điều 26 và điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 về n phí lệ phí Tòa n.

Tuyên xử:

- Chấp nh n yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X.

Công nh n một phần hiệu lực di chúc do bà L Thị N4 l p ngày 11/10/2018 để lại di sản là quyền sử dụng một phần diện tích thửa đất số 371 và 371A cùng tờ bản đồ số 23 xã Đ và căn nhà trên đất cho bà X. Bà Nguyễn Thị X được quyền sử dụng diện tích 616 2m2 đất ở nông thôn và đất trồng c y hàng năm tọa lạc tại Thôn E xã M huyện T t nh B nh Thu n; thuộc một phần diện tích của thửa đất số 371 và 371A tờ bản đồ số 23 giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số B.446295 cấp ngày 13/01/1993 mang tên L Thị N4 (Nay là thửa đất số 150 tờ bản đồ số 33 mảnh trích đo địa chính số 38/2019 do Văn phòng Đ2 thực hiện èm theo bản n).

Bà Nguyễn Thị X được quyền liên hệ với c c cơ quan chuyên môn để tiến hành làm các thủ tục đăng cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên theo quy định của pháp lu t.

- Không chấp nh n yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị T đối với yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đ nh phần diện tích 909m2 đất còn lại theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho 06 người là bà Lý Thị N4, ông Nguyễn Trung N1, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị X và bà Nguyễn Thị Đ1; chia thừa kế theo quy định của pháp lu t phần diện tích của bà N4 cho 05 người con và tuyên bố di chúc bà N4 đã l p ngày 11/10/2018 là vô hiệu.

- Không chấp nh n yêu cầu độc l p của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Ngô Hữu T1 chị Ngô Thị Phương C và chị Ngô Thị Phương D với yêu cầu chia di sản thừa ế của bà L Thị N4 theo quy định của ph p lu t; yêu cầu được hưởng phần di sản mà bà Đ1 được hưởng của bà N4 là trị gi quyền sử dụng của 1 9 mét ngang đất theo mặt tiền đường nhựa DT717.

Ngoài ra, bản n sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng, án phí, quyền h ng c o nhưng hông có h ng c o hông bị kháng nghị.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Ngày 13/12/2021 bị đơn Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bản n sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 3/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh. Nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không làm sáng tỏ những yếu tố khách quan quan trọng trong vụ án. Yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy bản n sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;

- Bị đơn giữ nguyên nội dung h ng c o đề nghị hủy bản n sơ thẩm.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp lu t trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự; c c đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân sự, chấp nh n một phần kháng cáo của bị đơn sửa Bản n sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 3/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh. Theo hướng, tuyên bố di chúc l p ngày 11/10/2018, vô hiệu và đề nghị chia di sản thừa kế cho hàng thừa kế thứ nhất.

- Ý kiến tranh lu n của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nh n kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản n sơ thẩm.

- Ý kiến tranh lu n của bị đơn: Đề nghị hủy n sơ thẩm vì có vi phạm nghiên trọng thủ tục tố tụng, các quyết định ph n công thư thay đổi chưa bảo đảm, thụ lý bổ sung không công khai tiếp c n chứng cứ đối yêu cầu phản tố. Về nội dung di chúc vi phạm điều 630, 634 Bộ lu t d n sự, những người làm chứng bà N2, bà T3 khai là ký sau khi bà N4 đã điểm ch trước đó Di chúc l p ngày 11/10/2018 thì ngày 18/10/2018, bà nhành chết. Khi này bà nhành đã 88 tuổi thì hông đảm bảo sự minh mẫn. Diện tích đất tranh chấp nhiều hơn diện tích đất xem xét thẩm định tại chỗ tại tòa cấp sơ thẩm. Không đồng đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ lại diện tích tranh chấp, nếu không hủy th đề nghị chia theo di sản thừa kế.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn kháng cáo trong thời hạn đúng thủ tục pháp lu t quy định nên vụ n được xem xét theo thủ tục phúc thẩm;

Tòa n sơ thẩm x c định quan hệ pháp lu t tranh chấp và giải quyết là đúng quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ lu t Tố tụng dân sự.

Về kháng cáo của bị đơn: Bị đơn h ng c o toàn bản n sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 3/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh. Nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không làm sáng tỏ những yếu tố khách quan quan trọng trong vụ n: “Yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy bản n sơ thẩm” Hội đồng xét xử nh n thấy:

Về nguồn gốc của diện tích đất thuộc thửa đất số 317 và 371A cùng tờ bản đồ số 23 xã Đ giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số B.446295 ngày 13/01/1993 mang tên L Thị N4.

Lời tr nh bày của c c đương sự tại phiên Tòa cũng như c c tài liệu chứng cứ thu th p có trong hồ sơ cho thấy gia đ nh bà L Thị N4 từ P t nh Thu n Hải cũ (nay là thành phố P t nh B nh Thu n) đến sinh sống tại xã B, huyện Đ t nh Thu n Hải cũ (nay là huyện T t nh B nh Thu n) từ năm 1976 theo diện inh tế mới; làm ăn một thời gian sau đó chuyển về Đà Nẵng sinh sống; đến hoảng năm 1986 mới quay trở lại sinh sống tại Đ, Hợp t c xã I, xã Đ huyện T t nh B nh Thu n (nay là xã M huyện T t nh B nh Thu n). Quá trình quay trở lại sinh sống tại xã Đ, bà N4 nh n chuyển nhượng của ông Phạm Văn N3 thửa đất có diện tích hoảng 1.520m2 tại Thôn D xã Đ huyện T với gi 12.000 đồng. Bà N4 sử dụng thửa đất đến năm 1993 th được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất là thửa 371 diện tích 430m2 đất thổ cư và thửa 371A diện tích 1.090m2 đất màu. Như v y diện tích đất tại thửa đất số 371 và 371A tờ bản đồ số 23 bà N4 để lại di chúc cho bà X có nguồn gốc là nh n chuyển nhượng lại của ông Phạm Văn N3 chứ hông phải do gia đ nh hai ph cải tạo.

Tại phiên Tòa bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Trung N1 đều x c định vào thời điểm nh n chuyển nhượng đất của ông Phạm Văn N3, gia đ nh bà N4 ch có bà N4 với ông N1 tiền nh n chuyển nhượng đất đai là của bà N4; bà M, bà X đã có gia đ nh ra riêng; bà Đ1 còn ở Đà Nẵng và bà T thì đang ở B chứ hông có ở Đ. Do bà T hông cung cấp được chứng cứ g để chứng minh công sức đóng góp nên việc bà T cho rằng có công sức đóng góp trong qu tr nh nh n sang nhượng lại thửa đất từ ông Phạm Văn N3 vào năm 1986 là hông có căn cứ.

Lời hai nh n của c c đương sự tại phiên Tòa đều x c định vào thời điểm năm 1993 hi bà N4 được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất th hộ gia đ nh bà N4 ch có bà N4 và anh Nguyễn Đức C1; bà M, bà X, ông N1, bà Đ1 và bà T đều đã l p gia đ nh ra riêng hông còn ai chung sống chung với bà N4, cũng hông là thành viên có quyền sử dụng đất chung trong hộ. Anh C1 xác định từ nhỏ đến hi thành niên, anh C1 được bà N4 chăm nuôi chứ hông có đóng góp công sức g trong việc h nh thành tài sản nhà đất của hộ gia đ nh và cũng hông có tranh chấp hay yêu cầu ph n chia g nên tài sản nhà đất thuộc quyền sử dụng của bà N4 là phù hợp.

Ngoài ra năm 2003 hi bà N4 l p thủ tục chuyển nhượng một phần diện tích của thửa đất số 371 và 371A cho bà Trần Thị Mỹ H1 thì bà T cũng hông có iến hay tranh chấp ngăn cản g với bà N4 điều này chứng tỏ bà T xác định thửa đất 371 và 371A là tài sản thuộc quyền sử dụng riêng của bà N4, do bà N4 định đoạt.

. Xét về di chúc l p ngày 11 th ng 10 năm 2018 của bà L Thị N4:

Về h nh thức: Ngày 11 th ng 10 năm 2018 bà L Thị N4 l p di chúc h nh thức di chúc bằng văn bản có người làm chứng là bà Lê Thị Diễm N2 và bà Hồ Thị T3. Tại thời điểm l p di chúc bà Lê Thị Diễm N2 và bà Hồ Thị T3 xác nh n bà Lý Thị N4 minh mẫn tự nguyện l p di chúc hông bị đe dọa hay cưỡng ép. Nhưng tại Bút lục số 110 tại biên bản lấy lời hai người làm chứng bà N2, bà T3 khai khi chúng tôi đến nhà bà N4 thì bà N4 có nhờ tôi x c nh n với tư c ch là người làm chứng trong di chúc bà N4 đã l p và điểm ch trước đó hông bảo đảm việc l p di chúc theo điều 630 634 Bộ lu t d n sự.

Về nội dung: Quyền sử dụng thửa đất số 317 và 371A cùng tờ bản đồ số 23 xã Đ và căn nhà trên đất là tài sản riêng của bà N4 nên bà N4 được quyền định đoạt di sản này nhưng nội dung hông bảo đảm Điều 630 và Điều 634 Bộ lu t d n sự năm 2015. Do đó di chúc l p ngày 11/10/2018 của bà L Thị N4, có nội dung định đoạt di sản là quyền sử dụng thửa đất số 371 và 371A cùng tờ bản đồ số 23 xã Đ và căn nhà trên đất cho bà Nguyễn Thị X là di chúc không hợp ph p theo quy định tại hoản 1 hoản 4 Điều 630 và Điều 634 Bộ lu t d n sự năm 2015.

Như v y từ những nh n định ph n tích nêu trên Hội đồng xét xử nh n thấy yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X yêu cầu công nh n một phần hiệu lực di chúc do bà N4 l p ngày 11/10/2018 để lại di sản là quyền sử dụng một phần diện tích thửa đất số 371 và 371A cùng tờ bản đồ số 23 xã Đ và căn nhà trên đất cho bà X là hông có căn cứ để chấp nh n.

Xét yêu cầu phản tố và phản tố bổ sung của bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết .

Ngoài việc hông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X thì bà Nguyễn Thị T còn phản tố, yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đ nh phần diện tích đất còn lại theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất là 909m2 vì tổng diện tích được cấp là 1.520m2 nhưng đã chuyển nhượng cho bà H1 611m2, cho 6 người là bà N4, ông N1, bà M, bà T, bà X, bà Đ1 (03 người con bà Đ1 được hưởng). Phần của bà N4 thì chia thừa kế theo quy định của pháp lu t cho 05 người con. Đồng thời yêu cầu tuyên bố di chúc bà N4 đã l p là vô hiệu.

Quyền sử dụng các thửa đất số 371 và 371A, cùng tờ bản đồ số 23 xã Đ và căn nhà trên đất là tài sản riêng của bà Lý Thị N4 nên việc bà N4 l p di chúc định đoạt di sản này. Hình thức và nội dung di chúc đối với phần định đoạt quyền sử dụng 02 thửa đất 371 và 371A không phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 630 và Điều 634 Bộ lu t dân sự năm 2015. Di sản của bà N4 để lại có nguồn gốc nh n chuyển nhượng từ người khác, không phải quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đ nh nên yêu cầu chia tài sản chung cho hộ gia đ nh của bà T đối với thửa đất số 371 và 371A, cùng tờ bản đồ số 23 xã Đ là hông có căn cứ để chấp nh n.

Xét ý kiến tranh lu n của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn đại diện hợp pháp của bị đơn. Hội đồng xét xử nh n thấy: V cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là hông đúng. Bởi lẽ, những người tham gia tố tụng trong vụ n được công khai tiếp c n chứng cứ, tham gia hòa giải tham gia phiên tòa sơ thẩm đảm bảo quyền tranh lu n tại phiên tòa. Bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm cho rằng diện tích đất tranh chấp lớn hơn diện tích 616,2 m2 nhưng một mực từ bỏ quyền yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc lại mặc dù đã được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giải thích nhiều lần. Vì v y, ý kiến tranh lu n và yêu cầu h ng c o của bà T cho rằng diện tích đất tranh chấp chia di sản thừa ế là 909m2 là hông có cơ sở để chấp nh n.

Từ những nh n định trên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nh n một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 3/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, t nh Bình Thu n như iến của Viện kiểm sát nhân dân t nh Bình Thu n là phù hợp.

X c định diện tích 616,2 m2 đất ở nông thôn và đất trồng c y hàng năm tọa lạc tại Thôn E xã M huyện T t nh B nh Thu n; Thuộc một phần diện tích của thửa đất số 371 và 371A tờ bản đồ số 23 giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số B.446295 cấp ngày 13/01/1993 mang tên L Thị N4 (Nay là thửa đất số 150 tờ bản đồ số 33 mảnh trích đo địa chính số 38/2019 do Văn phòng Đ2 thực hiện) cùng tài sản gắn liền với đất là 01 giếng đào và 02 c y xoài là di sản thừa kế của bà L Thị N4.

Hàng thừa ế thứ nhất của bà N4 gồm 05 người: Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Trung N1, bà Nguyễn Thị Đ1 (Bà Đ1 chết năm 2016, có con là T1, C, D) và bà Nguyễn Thị T,

Theo định gi của Hội đồng định gi ngày 01/7/2020 của huyện T thì giá đất theo thị trường 01m ngang là 200.000.000 đồng x 7 96 m = 1.592.500 000 đồng. Đối với gi này tại phiên tòa phúc thẩm; C c đương sự hông có iến h c hông tranh chấp về gi hông yêu cầu định gi lại. Nên Hội đồng xét xử căn cứ gi đất ngày 01/7/2020 làm căn cứ để giải quyết vụ n. Do c c đương sự yêu cầu nh n bằng tiền bà X xin nh n hiện v t là diện tích đất. Nên giao diện tích đất trên cho bà X, bà X hoàn lại cho bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Trung N1, và bà Nguyễn Thị T và c c ế thừa quyền nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Đ1 mỗi người 318.400.000 đồng tương ứng trị gi tài sản của di sản được chia.

Về án phí: C c đương sự phải chịu n phí đối với phần di sản được chia. Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị T được chấp nh n một phần nên bà không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Về chi phí tố tụng: Số tiền 4.266.700 đồng chi phí tố tụng được chia cho 05 người mỗi người phải chịu 853.340 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân sự;

Chấp nh n một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T; sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 87/2021/DS-ST ngày 03/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, t nh Bình Thu n.

1.Căn cứ vào:

- Khoản 2 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Các Điều 146, 147, 157, 165, 203, 227 và 228 Bộ lu t Tố tụng Dân sự;

- C c Điều 207, 209, 212, 609; khoản 1 Điều 630; Điều 634 và 649 Bộ lu t dân sự 2015;

- Các khoản 1 2 6 Điều 26 và điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử:

- Tuyên bố di chúc bà Lý Thị N4 đã l p ngày 11/10/2018, là vô hiệu.

- X c định di sản thừa kế là quyền sử dụng diện tích 616,2m2 đất ở nông thôn và đất trồng c y hàng năm tọa lạc tại Thôn E, xã M, huyện T, t nh Bình Thu n; thuộc một phần diện tích của thửa đất số 371 và 371A, tờ bản đồ số 23, giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số B.446295, cấp ngày 13/01/1993 mang tên Lý Thị N4 (Nay là thửa đất số 150, tờ bản đồ số 33, mảnh trích đo địa chính số 38/2019 do Văn phòng Đ2 thực hiện).

- Bà Nguyễn Thị X được quyền sử dụng diện tích 616,2m2 đất ở nông thôn và đất trồng c y hàng năm tọa lạc tại Thôn E, xã M, huyện T, t nh Bình Thu n, thuộc một phần diện tích của thửa đất số 371 và 371A, tờ bản đồ số 23, giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số B.446295, cấp ngày 13/01/1993, mang tên Lý Thị N4 và toàn bộ tài sản trên đất (Nay là thửa đất số 150, tờ bản đồ số 33, mảnh trích đo địa chính số 38/2019 do Văn phòng Đ2 thực hiện).

Bà Nguyễn Thị Xuân h lại cho bà Nguyễn Thị M số tiền 318.400.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Xuân h lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 318.400.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Xuân h lại cho ông Nguyễn Trung N1 số tiền 318.400.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Xuân h lại cho c c người kế thừa quyền nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Đ1 (Con T1, C, D) số tiền 318.400.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Trung N1, bà Nguyễn Thị T, hàng thừa kế của bà Nguyễn Thị Đ1 (Con T1, C, D) mỗi người phải chịu 1.592.000 đồng n phí đối với phần được chia.

Bà Nguyễn Thị T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngh n đồng); Hoàn trả lại số tiền tạm ứng n phí theo Biên lai số 0007632 ngày 20/12/2021 tại Chi cục thi hành n d n sự huyện Tánh Linh, t nh Bình Thu n.

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 300.000 đồng tạm ứng n phí đã nộp theo biên lai số 004779 ngày 25/8/2020 tại Chi cục Thi hành n D n sự huyện T nh Linh.

Hoàn trả cho ông Ngô Hữu T1 số tiền 830.000 đồng tạm ứng n phí đã nộp theo biên lai số 0027333 ngày 11/02/2020 tại Chi cục Thi hành n D n sự huyện T nh Linh.

Hoàn trả cho bà Ngô Thị Phương C số tiền 830.000 đồng tạm ứng n phí đã nộp theo biên lai số 0027334 ngày 11/02/2020 tại Chi cục Thi hành n D n sự huyện T nh Linh.

Hoàn trả bà Ngô Thị Phương D số tiền 830.000 đồng tạm ứng n phí đã nộp theo biên lai số 0027335 ngày 11/02/2020 tại Chi cục Thi hành n D n sự huyện Tánh Linh.

H2 lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 11.000.000 đồng tạm ứng n phí d n sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0013041 ngày 26/12/2018 tại Chi cục Thi hành n D n sự huyện T nh Linh.

H2 lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng n phí d n sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0027016 ngày 07/10/2019 và số tiền 10.016.000 đồng tạm ứng n phí d n sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 004780 ngày 25/8/2020 tại Chi cục Thi hành n D n sự huyện T nh Linh.

4. Chi phí tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Tuyết h1 lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 853.340 đồng chi phí tố tụng.

Bà Nguyễn Thị M hoàn lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 853.340 đồng chi phí tố tụng.

Ông Nguyễn Trung N1 hoàn lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 853.340 đồng chi phí tố tụng.

Người kế thừa quyền nghĩa vụ của bà bà Nguyễn Thị Đ1 (T1, C, D) hoàn lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 853.340 đồng chi phí tố tụng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lu t thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án (01/4/2024).

Cỡ chữ