- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HSST Ngày 24/4/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Anh.
2. Bà Đặng Thị Việt Hoài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2023/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/HSST-QĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Phạm Đình T, sinh ngày 15/8/1980 tại T1; nơi cư trú: Thôn T2, xã V, thành phố T1, tỉnh T1. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Đình P (đã chết) và bà Phạm Thị L; Vợ: Lại Thị P1, con: Có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/01/2023 cho đến nay.
* Bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm 1971 (đã tử vong).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Trần Văn T3, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Thôn N, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1 (Là chồng bà H).
- Anh Trần Anh T4, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn N, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1 (Là con bà H).
- Anh Trần Quang S, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Thôn N, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1 (Là con bà H).
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Trần Văn T3, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Thôn N, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1.
* Ngƣời làm chứng:
- Bà Trần Thị N1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: thôn Đ, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1.
- Anh Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: thôn Đ, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1.
- Bà Đào Thị Thanh H1, sinh năm 1977; Nơi cư trú: thôn T5, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1.
(Tại phiên tòa có mặt tất cả những người tham gia tố tụng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 30/11/2022 Phạm Đình T điều khiển xe ô tô tải, màu xanh, nhãn hiệu CUULONG, biển số đăng ký 98K-8000, có giấy phép lái xe theo quy định, chở phế liệu xây dựng đi từ phường T6, thành phố T1 về san lấp mặt bằng sân bóng xã T7, huyện K, tỉnh T1. Khi T điều khiển xe ô tô tải đi đến đoạn đường đê T8 thuộc địa phận thôn Đ, xã V1, thành phố T1, cách ngã ba giao với đường xuống chân đê sông T9 phía bên phải hướng đi của T khoảng 02m, tiếp giáp đường xuống chân đê rộng 7,5m; hai đầu nối mở rộng 29m, T quan sát thấy có một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu đỏ, biển số đăng ký 17M1-9075 do chị Đào Thị Thanh H1 đi từ giữa đường chân đê lên mặt đường đê T8. Khi đi vào nơi đường giao nhau với đường xuống chân đê, T không chú ý quan sát, không giảm tốc độ xe. Lúc này, chị H1 điều khiển xe lên đến mặt đường đê T8 cách đầu xe do T điều khiển khoảng 02m thì T đánh lái về bên phải để tránh chị H1. Cùng lúc này, bà Lê Thị H điều khiển xe đạp điện màu đen-xám-bạc đi sau chị H1, vừa đi lên tới mép mặt đê T8 nên mặt ngoài cạnh dưới đầu bên trái chắn đà trước của xe ô tô tải do T điều khiển đã va chạm với bánh lốp xe phía trước của xe máy điện do bà Lê Thị H điều khiển. Hậu quả bà H tử vong tại chỗ do sốc đa chấn thương.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 278/KL-KTHS(PY) ngày 06/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: 1. Các dấu vết chính qua giám định: Đa chấn thương vùng ngực, bụng, lưng, tay và chân do tai nạn giao thông làm dập nát toàn bộ các tạng trong ổ bụng, gãy 07 xương sườn bên phải; gãy toàn bộ xương cánh chậu hai bên; 2. Nguyên nhân chết: Nạn nhân Lê Thị H chết do sốc đa chấn thương.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi vi phạm như bản cáo trạng là đúng.
Bản cáo trạng số 58/CT-VKSTPTB ngày 30/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Đình T cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phối T1, tỉnh T1 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả lại cho bị cáo chiếc xe ô tô tải, màu xanh biển số đăng ký 98K-8000, nhãn hiệu CUULONG; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001266, biển số 98K-8000; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số 0022124, biển số 98K-8000; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 3018304; đã trả cho ông Trần Văn T3 chiếc xe đạp điện không đeo biển số, màu đen xám bạc. Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số hạng C số 340065347576 mang tên Phạm Đình T.
* Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận bồi thường của bị cáo và đại diện của bị hại, nay đại diện bị hại không yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
* Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không bào chữa, không có ý kiến tranh luận. Đại diện bị hại không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, không có ý kiến gì.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và được chứng minh bằng:
- Biên bản khám nghiệm phương tiện;
- Biên bản khám nghiệm tử thi và bản ảnh tử thi;
- Kết luận giám định pháp y tử thi số 278/KL-KTHS(PY) ngày 06/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
- Phiếu kiểm định số 29271/22 của đơn vị kiểm định 1701D ngày 19/12/2022;
- Biên bản làm việc hồi 15 giờ ngày 14/01/2023 tại Công ty TNHH Chương Tho;
- Biên bản ghi lời khai của đại diện bị hại, lời khai người làm chứng.
- Biên bản thỏa thuận bồi thường.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Đình T đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
1...
23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Điều 5 Thông tƣ số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019. Các trƣờng hợp phải giảm tốc độ:
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
...
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận;
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 30/11/2022 tại khu vực đoạn đường đê T8 giao với đường xuống chân đê sông T9 thuộc địa phận thôn Đ, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1, Phạm Đình T điều khiển xe ô tô tải theo hướng đi từ xã V, thành phố T1 đến xã T7, huyện K, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên mặt ngoài cạnh dưới, đầu bên trái chắn đà trước của xe ô tô tải do T điều khiển đã va chạm với bánh lốp phía trước xe đạp điện do bà Lê Thị H điều khiển đi từ đường dưới chân đê T9 lên dốc trên mặt đường đê T8. Hậu quả bà Lê Thị H tử vong tại hiện trường do sốc đa chấn thương.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
...
Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn, trật tự công cộng. Đã gây tâm lý hoang mang, lo ngại cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Hiện nay mật độ người và phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng, để hạn chế tai nạn giao thông thì Nhà nước đã có quy định rất chặt chẽ, cụ thể đối với hành vi và điều kiện bắt buộc, cần thiết đối với người tham gia giao thông nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân. Bị cáo không chú ý quan sát nên khi phát hiện thấy bà H thì khoảng cách đã quá gần, bị cáo không kịp giảm tốc độ. Bà H có một phần lỗi khi điều khiển xe không chú ý quan sát, không nhường đường khi lên dốc đê nên xe ô tô bị cáo điều khiển đã va chạm vào bà H gây hậu quả làm bà H tử vong, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết này được giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại có một phần lỗi, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo và gia đình bị hại việc thỏa thuận bồi thường về dân sự đã xong, nay đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả lại cho bị cáo chiếc xe ô tô tải, màu xanh biển số đăng ký 98K-8000, nhãn hiệu CUULONG; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001266, biển số 98K-8000; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số 0022124, biển số 98K-8000; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 3018304; đã trả cho ông Trần Văn T3 chiếc xe đạp điện không đeo biển số, màu đen xám bạc. Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số 340065347576 mang tên Phạm Đình T.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và đại diện bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65; Điều 46 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Đình T cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố T1, tỉnh T1 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Nếu bị cáo Phạm Đình T thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Phạm Đình T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
3. Trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường về trách nhiệm dân sự, nay đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
4. Xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số 340065347576 mang tên Phạm Đình T.
(Vật chứng của vụ án Công an thành phố Thái Bình đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 31/3/2022).
5. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo và đại diện bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/4/2023)./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Tòa án ND tỉnh TB; - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát ND TP Thái Bình; - Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Bình; - Cơ quan THAHS Công an TP Thái Bình; - Chi cục THADS TP Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Tuyết |