vanban.org

Bản án 51/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A Ninh phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Giàng A D 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian tạm giữ 9 (Chín) ngày (Tạm giữ từ ngày 03 đến ngày 11 tháng 8 năm 2023 bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ). Như vậy, bị cáo phải chấp hành án là 5 (Năm) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ, thời gian cải tạo khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "CHAO ONG S - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A Ninh phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ S3 PA-TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HSST
Ngày 27/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S3 PA

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Huấn và ông Sùng A Cở.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường-Thư ký Tòa án nhân dân thị xã S3 Pa, tỉnh Lào Cai.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã S3 Pa tham gia phiên tòa: Ông Tráng A Đạt-Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã S3 Pa, tỉnh Lào Cai, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Chảo Ông S, sinh ngày 28 tháng 02 năm 19xx, tại thị xã S, tỉnh Lào Cai.

ĐKHKTT: Thôn L, xã Th, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Dao; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Chảo Xuần D, sinh năm 19xx và bà Phùng Mùi N, sinh năm 19xx. Trú tại thôn L, xã Th, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo sống chung với chị Tẩn Mùi P, sinh năm 19xx như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn và có 01 con, sinh năm 2010, hiện nay bị cáo không sống chung với chị Tẩn Mùi P. Bị cáo và con trú tại thôn L, xã Th, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

2. Chảo Láo S1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 20xx, tại thị xã S, tỉnh Lào Cai.

ĐKHKTT: Thôn K, xã Ng, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Dao; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Chảo Duần T, sinh năm 19xx và con bà Tẩn Chiếu M, sinh năm 19xx. Trú tại thôn K, xã Ng, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo có chưa có vợ con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

3. Giàng A D, sinh ngày 02 tháng 3 năm 19xx, tại thị xã S, tỉnh Lào Cai.

ĐKHKTT: Tổ 01, phường H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: HMông; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Giàng A M, sinh năm 19xx và con bà Lù Thị L, sinh năm 19xx. Trú tại tổ 01, phường H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo có vợ là Má Thị N, sinh năm 20xx và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2022. Trú tại tổ 01, phường H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

4. Hạng A Ph, sinh ngày 13 tháng 6 năm 19xx, tại thị xã S, tỉnh Lào Cai.

ĐKHKT: Tổ 01, phường Ph, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Dân tộc: HMông; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Hạng A N, sinh năm 19xx và con bà Giàng Thị L, sinh năm 19xx. Trú tại tổ 01, phường Ph, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo có vợ là Sùng Thị S, sinh năm 20xx và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2023. Trú tại tổ 01, phường Ph, thị xã S, tỉnh Lào Cai;

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

5. Giàng A S2, sinh ngày 03 tháng 5 năm 20xx, tại thị xã S, tỉnh Lào Cai.

ĐKHKT: Tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: HMông; Trình độ văn hóa: 0/12; Con ông Giàng A L và con bà Má Thị Ch (Đều đã chết).

Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

6. Châu A S3, sinh ngày 08 tháng 9 năm 19xx, tại thị xã S, tỉnh Lào Cai.

ĐKHKT: Thôn Ch, xã Tr, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: HMông; Trình độ văn hóa: 0/12; Con ông Châu A L, sinh năm 19xx và con bà Giàng Thị Tr, sinh năm 19xx. Trú tại thôn Ch, xã Tr, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo có vợ là Sùng Thị D, sinh năm 19xx và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Trú tại thôn Ch, xã Tr, thị xã S, tỉnh Lào Cai;

Tiền án: Tại bản án số: 25/2018/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xử phạt 06 năm tù về tội mua bán người; Tiền sự: Không.

7. Hạng A Nsinh ngày 01 tháng 01 năm 20xx, tại thị xã S, tỉnh Lào Cai.

ĐKHKT: Tổ 03, phường H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: HMông; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Hạng A S, sinh năm 19xx và con bà Giàng Thị P, sinh năm 19xx. Trú tại tổ 03, phường H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo có vợ là Giàng Thị X, sinh năm 20xx và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Trú tại tổ 03, phường H, thị xã S, tỉnh Lào Cai;

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Các bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 8 năm 2023 đến ngày 11 tháng 8 năm 2023, hiện đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đều có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Chảo Ông S và Hạng A Ph và Giàng A S2: Bà Lò Thị Thúy Ngọc, sinh năm 1992-Là trợ giúp viên pháp lý. Có mặt.

Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lào Cai.

Người bào chữa cho bị cáo Chảo Láo S1, Giàng A D: Bà Nông Thị Thúy Hằng, sinh năm 1987-Là trợ giúp viên pháp lý. Có mặt.

Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lào Cai.

Người bào chữa cho bị cáo Châu A S3 và Hạng A Ninh: Bà Bùi Thị Nhung, sinh năm 1987-Là trợ giúp viên pháp lý. Có mặt.

Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lào Cai.

Người làm chứng, chứng kiến: Ông Nguyễn Minh Ph. Vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ 04, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Người phiên dịch cho bị cáo Giàng A S2: Anh Sùng A Ch, sinh năm 19xx. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Ý L, xã H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A N bị truy tố về hành vi phạm tội như S3u:

Khoảng 13 giờ ngày 03 tháng 8 năm 2023, Chảo Láo S1đi từ số nhà 589 đường Điện Biên Phủ thuộc tổ 02, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đến khu vực biển quảng cáo điện tử thuộc khu vực chợ S3 Pa, thuộc tổ 01, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai để chơi. Đến đây, Chảo Láo S1nhìn thấy một nhóm người không quen biết đánh bạc bằng hình thức đánh liêng, thắng thua bằng tiền mặt nên đã vào tham gia chơi cùng. Về quy tắc chơi: sử dụng 01 bộ bài lú lơ khơ gồm 52 quân bài gồm các quân 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A (Át) của 4 chất (Rô, Cơ, Tép, Bích), mỗi người chơi được chia ba quân bài. Quy định sáp (ba quân) là to nhất (to nhất sáp A (Át), nhỏ nhất sáp 2), S3u đó đến liêng (QKA to nhất, nhỏ nhất 123), đến ảnh (3 quân bài là đầu người-gồm các quân bài J, Q, K), S3u đó mới đến tính cộng điểm (đến 9 là cao nhất). Ngoài ra, trong mỗi lần chơi như trên, S3u khi tố xong, đều phải xét chất rô, cơ, tép, bích từ cao đến thấp trong mỗi bài của những người tố (cao nhất là chất rô, tiếp đến chất cơ, chất tép, nhỏ nhất là chất bích; A rô là to nhất, nhỏ nhất là 2 rô, các chất bài khác cũng tương tự) để xác định bài thắng. Mỗi ván chơi, người chơi phải đặt gà tối thiểu là 10.000 đồng/ván. Do bản thân hiểu cách thức chơi liêng nên Chảo Láo S1ngồi xuống vị trí sát chân cột biển quảng cáo điện tử quay ra phía đường N1 thuộc tổ 01, phường S3 Pa, thị xã S3 Pa và tham gia đánh bạc. Chảo Láo S1bỏ ra 100.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt Chảo Láo S1bị thu giữ 1.100.000 đồng là số tiền đang cầm trên tay trái để đánh bạc và là người thắng bạc.

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 03 tháng 8 năm 2023, Hạng A Ph điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2-597.xx đến khu vực chợ Sa Pa để chạy xe ôm, nhưng thấy một nhóm người không quen biết đang đánh bạc bằng hình thức đánh liêng thắng thua bằng tiền mặt, tại khu vực dưới chân cột biển quảng cáo điện tử. Hạng A Ph đứng xem đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Hạng A Ph cất tiền đánh bạc và thắng bạc tại túi quần phía trước bên trái đang mặc trên người, khi bị bắt bị thu giữ 610.000 đồng tiền đánh bạc.

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03 tháng 8 năm 2023, Chảo Ông S ngồi uống nước tại quán nước cạnh cột đèn tín hiệu giao thông thuộc tổ 01, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa nhìn thấy một nhóm người đang ngồi đánh bạc ở chân cột biển quảng cáo điện tử. Chảo Ông S đi đến thì có một người đàn ông lạ mặt nói với Chảo Ông S “Mày muốn chơi thì vào đi, tao có việc bận, tao nghỉ”, Chảo Ông S ngồi xuống thay vị trí chơi của người này tham gia đánh bạc. Ban đầu, Chảo Ông S sử dụng số tiền 70.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt Chảo Ông S bị thu giữ số tiền 2.820.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên, Chảo Ông S khai nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Khoảng 14 giờ ngày 03 tháng 8 năm 2023, Hạng A N điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B1-836xx đi từ nhà tại tổ 03, phường Hàm Rồng, thị xã Sa Pa đến chợ S3 Pa để chạy xe ôm. Khi đến khu vực chân cột đèn đường N1 tổ 01, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa nhìn thấy một nhóm người đang đánh bạc bằng hình thức đánh liêng thắng thua bằng tiền mặt, Hạng A N đến và bỏ ra số tiền 300.000 đồng để tham gia đánh bạc, chơi được khoảng 20 ván thì bị thua hết tiền.

Khoảng 14 giờ ngày 03 tháng 8 năm 2023, Giàng A D điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX màu xanh đen, biển kiểm soát 24B1-991xx đến khu vực biển quảng cáo điện tử thuộc tổ 01, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai để chạy xe ôm, Giàng A D nhìn thấy một nhóm người đang đánh bạc bằng hình thức đánh liêng thắng thua bằng tiền mặt. Giàng A D bỏ ra số tiền 200.000 đồng tham gia đánh bạc, quá trình đánh bạc, Giàng A D cất tiền đánh bạc ở túi quần bên trái đang mặc trên người, khi bị bắt bị thu giữ số tiền 650.000 đồng tiền đánh bạc.

Khoảng 14 giờ ngày 03 tháng 8 năm 2023, Giàng A S2 đi bộ đến khu vực biển quảng cáo điện tử thuộc tổ 01, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai nhìn thấy một nhóm người đang ngồi đánh bạc bằng hình thức đánh liêng thắng thua bằng tiền mặt. Giàng A S2 xin vào tham gia đánh bạc và bỏ ra số tiền 200.000 đồng tham gia để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Giàng A S2 cất tiền đánh bạc ở túi quần bên trái đang mặc trên người, khi bị bắt bị thu giữ số tiền 340.000 đồng.

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 03 tháng 08 năm 2023, Châu A S3 đi ra khu vực chân biển quảng cáo điện tử thuộc tổ 01, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa chơi nhìn thấy một nhóm người đang ngồi đánh bạc bằng hình thức đánh liêng thắng, thua bằng tiền mặt, Châu A S3 đứng xem một lúc và xin vào tham gia đánh bạc. Châu A S3 mang theo số tiền 13.530.000 đồng và bỏ ra số tiền 130.000 đồng ra để đánh bạc bị thua 10.000 đồng, còn tiền đánh bạc cất tại túi quần bên phải đang mặc trên người, khi bị bắt bị thu giữ số tiền 120.000 đồng.

Đến hồi 15 giờ 45 phút ngày 03 tháng 8 năm 2023, tổ công tác thuộc Đội điều tra tổng hợp Công an thị xã S3 Pa phối hợp với Công an phường Sa Pa, Công an phường Sa Pả và Công an phường Phan Si Păng làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A N đang đánh bạc bằng hình thức đánh liêng thắng thua bằng tiền mặt. Tổ công tác tiến hành mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan để điều tra, xác minh, làm rõ. Cụ thể: Thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, đã qua sử dụng; Thu giữ của Chảo Láo S1số tiền là 1.100.000 đồng sử dụng đánh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng bên trong lắp sim Viettel số 0366599xxx; Thu giữ của Giàng A D số tiền là 650.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, bên trong lắp sim Vinaphone số 0888695xxx đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen, biển kiểm soát 24B2-991.xx ; Thu giữ của Châu A S3 số tiền là 13.520.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng, bên trong lắp sim Vinaphone số 0818591xxx; Thu giữ của Hạng A N 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y01, màu xanh, bên trong lắp sim Viettel số 0346144xxx đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B1-836.xx; Thu giữ của Hạng A Ph số tiền là 610.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5, màu xanh, bên trong lắp sim Vinaphone số 0912869xxx, đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2-597.xx đã qua sử dụng; Thu giữ của Chảo Ông S số tiền là 2.820.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, bên trong lắp sim Viettel số 0973766xxx đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tím, bên trong lắp sim Vinaphone số 0799773xxx; Thu giữ của Giàng A S2 số tiền 340.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSSP-LC ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S3 Pa truy tố Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S3 Pa, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A N phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Châu A S3 từ 6 tháng đến 9 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Ông S, số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Giàng A D, Hạng A Ph, Hạng A N.

- Xử phạt bị cáo Giàng A D từ 6 tháng đến 9 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Xử phạt bị cáo Hạng A Ph từ 6 tháng đến 9 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Xử phạt bị cáo Hạng A N từ 6 tháng đến 9 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chảo Láo S1và Giàng A S2.

- Xử phạt bị cáo Chảo Láo S1, số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

- Xử phạt bị cáo Giàng A S2 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài.

Tịch thu của các bị cáo số tiền 5.640.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Tạm giữ của bị cáo Chảo Láo S101 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng bên trong lắp sim Viettel số 0366599xxx để đảm bảo thi hành án.

Tạm giữ của bị cáo Chảo Ông S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh bên trong lắp sim Viettel số 0973766160 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, bên trong lắp sim Vinaphone số 0799773xxx đều đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.

Tạm giữ của bị cáo Châu A S3 số tiền 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Hạng A Ph 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen đỏ, biển kiểm soát 24B2-597.xx và 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 màu xanh bên trong lắp sim Vinaphone số 0912869xxx đều đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Giàng A D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen, biển kiểm soát 24B2-991.xx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh bên trong lắp sim Vinaphone số 0888695xxx, đều đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Hạng A Ninh 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y01 màu xanh bên trong lắp sim Viettel số 0346144xxx đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Châu A S3 số tiền là 13.200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng bên trong lắp sim Vinaphone số 0818591xxx.

Tuyên miễn án phí cho bị cáo Giàng A D, Hạng A Ph, Hạng A N. Buộc bị cáo Chảo Ông S, Giàng A S2, Châu A S3, Chảo Láo S1phải chịu án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa những người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, mức án và điều luật dụng đối với các bị cáo, đề nghị áp dụng mức án khởi điểm như viện kiểm sát đề nghị.

Người bào chữa bà Lò Thị Thúy Ngọc bào chữa cho bị cáo Hạng A Ph và người bào chữa bà Bùi Thị Nhung bào chữa cho bị cáo Châu A S3. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo Hạng A Ph là hộ nghèo được hưởng tình tiết khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Châu A S3, với lý do bị cáo điều kiện gia đình khó khăn.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo, người bảo chữa cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như S3u:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã S3 Pa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã S3 Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A N khai nhận khoảng thời gian chiều ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại khu vực Chợ S3 Pa thuộc tổ 01, phường S3 Pa, thị xã S3 Pa các bị cáo đang thực hiện hành vi cùng nhau đánh bạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang Chảo Ông S sử dụng số tiền là 2.820.000 đồng, Chảo Láo S1sử dụng số tiền là 1.100.000 đồng, Giàng A D sử dụng số tiền là 650.000 đồng, Hạng A Ph sử dụng số tiền là 610.000 đồng, Giàng A S2 sử dụng số tiền là 200.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ số tiền là 340.000 đồng, Châu A S3 sử dụng số tiền là 130.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ số tiền là 120.000 đồng, Hạng A N sử dụng số tiền là 300.000 đồng, khi bị bắt đã bị thua hết tiền, tổng cộng thu giữ của các bị cáo số tiền là 5.640.000 đồng và sử dụng bộ bài tú lơ khơ, hình thức đánh liêng, cá cược thắng thua bằng tiền mặt. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai người làm chứng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, an ninh trật tự xã hội đã phạm vào tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.

Hội đồng xét xử đánh giá trong vụ án này là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không quen biết nhau, không có sự bàn bạc phân công vai trò từ trước, khi thấy mọi người đánh bạc thì vào tham gia, không xác định được ai là người khởi xướng đánh bạc; đối với dụng cụ sử dụng đánh bạc là bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài có sẵn của người đánh đã về từ trước. Nên không xác định được ai là người khởi xướng, không có người chuẩn bị dụng cụ phương tiện, do vậy các bị cáo cùng nhau tham gia thực hiện tội phạm đều là người thực hành và có vai trò như nhau.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Hạng A N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại bản án số: 25/2018/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xử phạt bị cáo Châu A S3 06 năm tù về tội mua bán người, đến hành vi phạm tội lần này của bị cáo chưa được xóa án tích, nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nh : Hội đồng xét xử nhận định các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nh quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Hạng A N phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Chảo Ông S được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã S3 Pa tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong diễn tập phòng thủ thị xã S3 Pa năm 2023, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Hạng A Ph đề nghị hội đồng xét xử áp dụng tỉnh tiết giảm nh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Hạng A Ph là không có căn cứ, bởi lẽ tình tiết là hộ nghèo không phải là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự.

Về áp dụng hình phạt: Hội đồng xét xử nhận định các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Hạng A N hiểu biết pháp luật và xã hội, nhận thức pháp luật cấm hành vi đánh bạc nhưng vì hám lời thu lợi bất chính, thể hiện không ý thức chấp hành pháp luật, nên xét xử mức án phù hợp tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, sống tại địa phương chưa vi phạm pháp luật có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, các bị cáo có thu nhập ổn định nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục, ngoài ra xem xét bị cáo Giàng A D và Hạng A Ph, Hạng A N thuộc hộ nghèo nên cần xem xét áp dụng hình phạt phù hợp đối với các bị cáo. Riêng bị cáo Châu A S3 có tiền án chưa được xóa án tích, nên áp dụng mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo chỉ đảm bảo cuộc sống sinh hoạt bình thường, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền, đồng thời miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp quy định pháp luật.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy số tiền là 5.640.000 đồng là tiền do các bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định pháp luật.

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ bộ, gồm 52 lá bài do các bị cáo sử dụng đánh bạc, xét thấy không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng bên trong lắp sim Viettel số 0366599xxx thu giữ của bị cáo của Chảo Láo S1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh bên trong lắp sim Viettel số 0973766xxx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, bên trong lắp sim Vinaphone số 0799773xxx của Chảo Ông S đều đã qua sử dụng; số tiền 200.000 đồng của bị cáo Châu A S3. Xét thấy không liên quan đến vụ án, tuy nhiên cân tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, biển kiểm soát 24B2-597.xx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 màu xanh, bên trong lắp sim Vinaphone số 0912869xxx thu giữ của bị cáo Hạng A Ph; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen, biển kiểm soát 24B2-991.xx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, bên trong lắp sim Vinaphone số 0888695xxx thu giữ của bị cáo Giàng A D; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y01 màu xanh bên trong lắp sim Viettel số 0346144xxx thu giữ của bị cáo Hạng A N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng bên trong lắp sim Vinaphone số 0818591xxx và số tiền là 13.200.000 đồng thu giữ của bị cáo Châu A S3. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho các bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B1-836.xx thu giữ của bị cáo Hạng A N. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là Hạng A S4 là bố của bị cáo cho Hạng A N mượn làm phương tiện đi lại, ông Hạng A S4 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngày 03 tháng 10 năm 2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý tài sản trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Các bị cáo Giàng A D, Hạng A Ph, Hạng A N thuộc hộ nghèo nên xét miễn án phí hình sự cho các bị cáo là phù hợp. Người bào chữa đề nghị miễn án phí cho bị cáo Châu A S3 là không có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ bị cáo Châu A S3 có điều kiện hoàn cảnh thu nhập mức trung bình đảm bảo cuộc sống và không thuộc hộ nghèo. Buộc các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Châu A S3, Giàng A S2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A Ninh phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Châu A S3. Xử phạt bị cáo Châu A S3 6 (Sáu) tháng tù, khấu trừ cho bị cáo 9 (Chín) ngày tạm giữ. Như vậy, bị cáo Châu A S3 còn phải chấp hành án là 5 (Năm) tháng 21 (Hai mươi một) ngày, thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Giàng A D, Hạng A Ph, Hạng A N.

Xử phạt bị cáo Giàng A D 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian tạm giữ 9 (Chín) ngày (Tạm giữ từ ngày 03 đến ngày 11 tháng 8 năm 2023 bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ). Như vậy, bị cáo phải chấp hành án là 5 (Năm) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ, thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã S3 Pa nhận được quyết định thi hành án và bản S3o bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Giao bị cáo Giàng A D về cho Ủy ban nhân dân phường Hàm Rồng, thị xã S3 Pa, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Hạng A Ph 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian tạm giữ 9 (Chín) ngày (Tạm giữ từ ngày 03 đến ngày 11 tháng 8 năm 2023 bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ). Như vậy, bị cáo phải chấp hành án là 5 (Năm) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ, thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã S3 Pa nhận được quyết định thi hành án và bản S3o bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Giao bị cáo Hạng A Ph về cho Ủy ban nhân dân phường Phan Si Păng, thị xã S3 Pa, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Hạng A N 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian tạm giữ 9 (Chín) ngày (Tạm giữ từ ngày 03 đến ngày 11 tháng 8 năm 2023 bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ). Như vậy, bị cáo phải chấp hành án là 5 (Năm) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ, thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã S3 Pa nhận được quyết định thi hành án và bản S3o bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Giao bị cáo Hạng A N về cho Ủy ban nhân dân phường Hàm Rồng, thị xã S3 Pa, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Giàng A D và bị cáo Hạng A Ph, Hạng A N thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo khoản 1 Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Buộc bị cáo Giàng A D và bị cáo Hạng A Ph, Hạng A N phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chảo Ông S. Xử phạt bị cáo Chảo Ông S số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chảo Láo S1, Giàng A S2.

Xử phạt bị cáo Chảo Láo S1số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Giàng A S2 số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu của bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A D, Hạng A Ph, Giàng A S2, Châu A S3, Hạng A N số tiền 5.640.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) nộp Ngân sách Nhà nước. Theo giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản tiền mặt tại Kho bạc lập ngày 15 tháng 11 năm 2023, đơn vị trả tiền Công an thị xã S3 Pa, tài khoản 3949.0.9030078.00000, tại kho bạc Nhà nước thị xã S3 Pa, đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án thị xã S3 Pa, tài khoản 3949.01052751, tại kho bạc Nhà nước S3 Pa, số tiền 19.040.000 đồng (Mười chín triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ, gồm 52 (Năm mươi hai) lá bài.

Tạm giữ của bị cáo của Chảo Láo S101 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng bên trong lắp sim Viettel số 0366599xxx để đảm bảo thi hành án.

Tạm giữ của Chảo Ông S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh bên trong lắp sim Viettel số 0973766xxx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, bên trong lắp sim Vinaphone số 0799773xxx đều đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.

Tạm giữ của bị cáo Châu A S3 số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án. Theo giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản tiền mặt tại Kho bạc lập ngày 15 tháng 11 năm 2023, đơn vị trả tiền Công an thị xã S3 Pa, tài khoản 3949.0.9030078.00000, tại kho bạc Nhà nước thị xã S3 Pa, đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án thị xã S3 Pa, tài khoản 3949.01052751, tại kho bạc Nhà nước S3 Pa, số tiền 19.040.000 đồng (Mười chín triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).

Trả lại cho bị cáo Hạng A Ph 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2-597.xx và 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 màu xanh bên trong lắp sim Vinaphone số 0912869xxx đều đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Giàng A D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen, biển kiểm soát 24B2-991.xx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh bên trong lắp sim Vinaphone số 0888695xxx, đều đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Hạng A Ninh 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y01 màu xanh bên trong lắp sim Viettel số 0346144xxx đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị có Châu A S3 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng bên trong lắp sim Vinaphone số 0818591xxx và số tiền 13.200.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm nghìn đồng). Theo giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản tiền mặt tại Kho bạc lập ngày 15 tháng 11 năm 2023, đơn vị trả tiền Công an thị xã S3 Pa, tài khoản 3949.0.9030078.00000, tại kho bạc Nhà nước thị xã S3 Pa, đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án thị xã S3 Pa, tài khoản 3949.01052751, tại kho bạc Nhà nước S3 Pa, số tiền 19.040.000 đồng (Mười chín triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Giàng A D, Hạng A Ph, Hạng A N.

Buộc các bị cáo Chảo Ông S, Chảo Láo S1, Giàng A S2, Châu A S3 mỗi bị cáo phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7ª, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ