vanban.org

Bản án 51/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Văn Phúc - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ GIA MẬP
TỈNH BÌNH PHƯỚC
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HSST
Ngày 27-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điểu Thanh; ông Phan Tấn Lãm

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐ-XX ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thạch Văn A; tên gọi khác: không; sinh ngày: 30 tháng 12 năm 2005; tại Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp PP, xã PT, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; chổ ở hiện nay: Thôn BX, xã ĐƠ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Thạch Minh B, sinh năm 1980 và bà Trương Thị C, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Ngày 28 tháng 02 năm 2023, thực hiện hành vi “Chống người thi hành công vụ”, đến ngày 24 tháng 4 năm 2023 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Bù Gia Mập khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Người giám hộ cho bị cáo Thạch Văn A: Bà Trương Thị C, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn BX, xã ĐƠ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Thạch Văn A: Ông Nguyễn Ghi D – Trợ giúp viên pháp lý; thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Bình Phước (có mặt).

Người bị hại: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn ĐL, xã ĐƠ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (vắng mặt có lý do).

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Đức Minh E, sinh năm 2001; nơi cư trú: thôn ĐL, xã ĐƠ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (vắng mặt có lý do).

Ông Thạch Minh F, sinh năm 2004 (có mặt)

Ông Thạch Quốc G, sinh năm 2007 do bà Trì Thị Ngọc H, sinh năm 1988 làm người giám hộ; nơi cư trú: Ấp PP, xã PT, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Chổ ở hiện nay: Thôn BX, xã ĐƠ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Tối ngày 27 tháng 02 năm 2023, Thạch Văn A, Thạch Minh F và Thạch Quốc G cùng nhau uống nước tại quán giải khát “Shin” trước cổng trường Trung học phổ thông ĐƠ thuộc thôn ĐL, xã ĐƠ, huyện Bù Gia Mập thì xảy ra mâu thuẫn, xô xát với nhóm học sinh trường Trung học phổ thông ĐƠ cũng đang uống nước tại đây, nhưng không để lại thương tích. Do bực tức, nên khoảng 11 giờ ngày 28 tháng 02 năm 2023 A và G đi xe mô tô đến trước cổng trường Trung học phổ thông ĐƠ tìm nhóm học sinh này để đánh. Khi đến nơi thì phát hiện hai học sinh tối hôm trước có xô xát đánh nhau, A liền điều khiển xe mô tô chở G về nhà A ở gần đó lấy 01 con dao rồi điều khiển xe quay lại. Lúc này, F đi ngang qua nhìn thấy liền điều khiển xe mô tô đuổi theo A và G. Do Nguyễn Đức Minh E nhìn thấy A, G cầm theo dao liền dùng điện thoại quay Video, đồng thời gọi điện thoại báo Công an xã ĐƠ biết vụ việc, thấy vậy A và G chạy về nhà cất giấu dao rồi đi ra đường ở thôn BX, xã ĐƠ đứng nói chuyện. Nhận được tin báo của E, ông Nguyễn Thanh Đ là Công an viên, báo cáo đến ông Trịnh Bà I là Phó trưởng Công an xã ĐƠ biết, ông I liền cử ông Đ (ca trực của ông I và ông Đ) đến hiện trường để xác minh vụ việc. Ông Đ mặc trang phục ngành và điều khiển xe mô tô chuyên dụng đến hiện trường, khi gần đến hiện trường ông Đ gặp E thì được E dẫn đi tìm A, G thì phát hiện A, G và F đang đứng ở ven đường, ông Đ đi đến yêu cầu F, A và G về trụ sở Công an xã để làm việc thì F điều khiển xe mô tô bỏ đi. Thấy vậy, E giữ xe của F lại thì A đi đến dùng tay đánh E, ông Đ đi đến can ngăn và yêu cầu A chấm dứt hành vi, A liền dùng tay phải đấm một cái trúng vào mặt ông Đ làm cho ông Đ ngã xuống rãnh thoát nước, sau đó ông Đ đứng dậy bỏ chạy vào lô cao su, còn E cũng bỏ chạy thì A, F và G đuổi theo E một đoạn nhưng không kịp thì quay lại lấy xe mô tô bỏ trốn khỏi hiện trường.

Ngày 02 tháng 3 năm 2023, Thạch Văn A đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bù Gia Mập thu giữ: 01 con dao dài 110cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 31,5cm, phần cán bằng kim loại dài 78,5cm.

Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 63 ngày 08/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Phước kết luận: tỉ lệ phần trăm cơ thể của ông Nguyễn Thanh Đ tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dài 110cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 31,5cm, phần cán bằng kim loại dài 78,5cm là công cụ mà A sử dụng nhằm mục đích gây thương tích cho người khác nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh Đ không yêu cầu nên không đề cập đến.

Tại bản cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đã truy tố bị cáo Thạch Văn A về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; 90; 91 của Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên phạt bị cáo A mức án từ 06 - 09 tháng tù.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; 90; 91 của Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên phạt bị cáo A mức án từ 06 - 09 tháng tù, cho hưởng án treo.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thạch Văn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Kết luận giám định; Bản ảnh, Bản vẽ, Biên bản xác định hiện trường, phù hợp về thời gian, địa điểm cách thức thực hiện tội phạm, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử kết luận: Sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, khoảng 11 giờ ngày 28 tháng 02 năm 2023 ông Nguyễn Thanh Đ là Công an viên của xã ĐƠ được Chỉ huy Công an xã phân công đến hiện trường thuộc thôn BX, xã ĐƠ, huyện Bù Gia Mập để xác minh vụ việc đánh nhau theo phản ánh của người dân thì phát hiện bị cáo Thạch Văn A cùng với Thạch Minh F và Thạch Quốc G đang đứng ở gần hiện trường, ông Đ đi đến yêu cầu các đối tượng về trụ sở Công an xã để làm việc thì bị cáo A dùng tay phải đấm một cái trúng vào mặt ông Đ làm cho ông Đ ngã xuống rãnh thoát nước ở ven đường và gây nên tỷ lệ thương tích cơ thể là 01%. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bản thân bị cáo mặc dù là người chưa thành niên (theo kết luận giám định độ tuổi trên người sống thì bị cáo có độ tuổi từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm 06 tháng), nhưng có đủ khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, bị cáo biết được việc chống người thi hành công vụ là hành vi vi phạm pháp luật, khi bị phát hiện sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng do quá trình ông Đ là công an viên được cử đến nơi xảy ra vụ việc và yêu cầu bị cáo và ông F, ông G về trụ sở Công an xã để làm việc thì ông F điều khiển xe mô tô bỏ đi. Thấy vậy, ông E giữ xe của ông F lại thì bị cáo đi đến dùng tay đánh ông E, ông Đ đi đến can ngăn và yêu cầu bị cáo chấm dứt hành vi, bị cáo liền dùng tay phải đấm một cái trúng vào mặt ông Đ làm cho ông Đ ngã xuống rãnh thoát nước. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý xã hội nói chung và hoạt động thực thi công vụ nói riêng, làm giảm hiệu lực của cơ quan chứng năng và xâm hại đến sức khoẻ của người thi hành công vụ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội “chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm nhằm răn đe, giáo dục để bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng sức khỏe của người khác và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung.

Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có hoàn cảnh khó khăn, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú, là dân tộc thiểu số có nhận thức kém. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần phải áp dụng khi lượng hình.

Đối với ông Thạch Minh F, ông Thạch Quốc G không bàn bạc, xúi giục, kích động và không thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập không khởi tố đối với ông F, ông G với vai trò đồng phạm trong vụ án này. Ngày 26 tháng 4 năm 2023, Công an huyện Bù Gia Mập đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng đối với bị cáo và xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với ông Thạch Quốc G về hành vi đem theo hung khí nhằm mục đích gây thương tích cho người khác nên trong vụ án này Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng vụ án:

Đối với 01 con dao dài 110cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 31,5cm, phần cán bằng kim loại dài 78,5cm là công cụ mà bị cáo sử dụng nhằm mục đích gây thương tích cho người khác nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave không có biển kiểm soát là xe của bà Trương Thị C là mẹ của bị cáo A mua của một người không rõ họ tên. Ngày 28 tháng 02 năm 2023, bị cáo tự ý lấy xe mô tô này để thực hiện hành vi phạm tội nhưng bà C không biết. Xe mô tô này hiện nay bà C đã bán phế liệu được 800.000 đồng và không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh Đ không yêu cầu nên không xử lý.

Đối với lời phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa về mức án đối với bị cáo từ 06-09 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị này chưa phù hợp vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên mà đặc biệt là quá trình phạm tội, bị cáo chưa thành niên. Vì vậy, nghĩ không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi môi trường xã hội một thời gian mà chỉ cần cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho mình, đồng thời, qua đó cũng thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với lời phát biểu của các Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Bình Phước trình bày lời bào chữa cho bị cáo và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 06-09 tháng tù cho hưởng án treo, Hội đồng xét thấy có cơ sở nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Thạch Văn A (tên gọi khác: Không) phạm tội “chống người thi hành công vụ”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 90; 91; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Thạch Văn A 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Tuyên giao bị cáo cho UBND xã ĐƠ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 110cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 31,5cm, phần cán bằng kim loại dài 78,5cm là công cụ mà bị cáo sử dụng nhằm mục đích gây thương tích cho người khác.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0008835; Quyển số 0177; Ký hiệu D47/2017 ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập).

4. Về án phí hình sự sơ thấm:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo Thạch Văn A phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết tại địa phương.

Cỡ chữ