vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn In - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:51/2023/HS-ST
Ngày 28 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Thanh Bình

Ông Hà Văn Tý

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Quyền - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã Nghĩa Lộ xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Văn I. Sinh ngày 15/4/1987. Tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản N Ph, xã Ph S, thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái.; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1956 và bà Lường Thị P, sinh năm 1955; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/6/2023, tạm giam từ ngày 15/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.

Người làm chứng:

- Hoàng Văn H, sinh năm 1993; trú tại: Bản N Ph, xã Ph S, thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

- Lò Văn L, sinh năm 1985; trú tại: Bản N Ph, xã Ph S, thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

- Lường Văn Th, sinh năm 1987; trú tại: Bản N Ph, xã Ph S, thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

- Hoàng Văn Th, sinh năm 1996; trú tại: Bản N Ph, xã Ph S, thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 40 phút, ngày 08/6/2023 tại nơi ở của Hoàng Văn I, thuộc bản N Ph, xã Ph S, thị xã Ng L tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an xã Ph S, thị xã Ng L phát hiện Hoàng Văn I và Hoàng Văn H, đang có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. I khai nhận vừa nhận 100.000 đồng do H đưa để mua ma tuý và cất tiền vào túi quần, nhưng chưa kịp lấy ma tuý đưa cho H thì bị phát hiện. In tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc trên người giao nộp 01 lọ nhựa bên trong có 07 gói giấy, bên trong mỗi gói giấy đều có chất bột màu trắng I khai nhận là Heroine cất giấu để bán; thu giữ tại túi quần sau bên phải I đang mặc số tiền 500.000 đồng. Kiểm tra Hoàng Văn H không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Hồi 21 giờ 00 phút cùng ngày, khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Hoàng Văn I. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma tuý.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa In khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 06/06/2023, In đi làm ruộng của gia đình tại bản N Ph, xã Ph S thì gặp một người đàn ông, người này giới thiệu tên là P nhà ở xã P L, huyện Tr T cũng là người nghiện ma tuý. Hoàng Văn I đã hỏi mua heroine của P mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác. P đã bán cho I 04 gói heroine được gói bằng giấy với giá 400.000 đồng. I đem số heroine chia ra thêm được 01 gói, tổng số là 05 gói, I đã sử dụng luôn tại ruộng 01 gói còn 04 gói cất vào túi quần. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, trên đường về đến khu vực trạm Y tế xã Ph S, thị xã Ngh L I gặp 02 người là Lường Văn Th và Hoàng Văn Th cùng trú tại bản N Ph, xã Ph S, thị xã Ng L. Th hỏi mua Heroine để sử dụng và đưa cho I 100.000 đồng, I nhận tiền của Th, thấy Th đưa tiền mua Heroine thì Th cũng lấy 100.000 đồng đưa cho I để mua Heroine. I nhận tiền rồi lấy 02 gói heroine trong túi quần ra đưa cho Th và Th mỗi người 01 gói. Sau đó I mang 02 gói Heroine về nhà và sử dụng hết.

Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 08/06/2023, trong lúc đi làm ruộng I mượn điện thoại của người đi đường gọi điện cho P để hỏi mua Heroine. Khi P đến thì I hỏi mua 8 gói Heroine với giá 800.000 đồng và trả trước cho P 400.000 đồng rồi hẹn khi nào bán hết thì trả nốt tiền. P nhận tiền và đưa cho In 08 gói Heroine gói bằng giấy, I đem số heroine chia ra thêm được 02 gói, tổng số là 10 gói và sử dụng luôn 01 gói tại đây. 09 gói còn lại I mang về cho vào một lọ nhựa cất vào trong túi quần mặc trên người. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, I đang ở nhà thì Hoàng Văn H và Lò Văn L, cùng trú tại bản N Ph, xã Ph S đến nhà hỏi mua ma tuý. H hỏi I “Còn ma tuý không, bán cho hai anh em 02 cái” và đưa cho I 200.000 đồng. I nhận tiền rồi lấy 02 gói heroine đưa cho H, ngay lúc đó H đưa luôn cho L 01 gói heroine trước mặt I, còn H giữ lại cho mình 01 gói, rồi H và L cùng nhau ra về.

Đến khoảng 18 giờ ngày 08/6/2023, I đang ở nhà thì Hoàng Văn H tiếp tục đến nhà đưa cho I 100.000 đồng để mua 01 gói Heroine, I nhận tiền cất vào túi quần, đang chuẩn bị lấy heroine để đưa cho H thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Lời khai của Lường Văn Th, Hoàng Văn H và Lò Văn L phù hợp với lời khai của Hoàng Văn I.

Tại bản Kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn In có tổng khối lượng là 0,32 gam. 0,08 gam trích từ 0,32 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số 335/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: “ 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, gửi giám định đều là tiền thật.”

Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS-NL ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố bị cáo Hoàng Văn I về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo “Tự thú” và “Thành khẩn khai báo"quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

* Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn I phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù.

- Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.Tịch thu tiêu hủy 0,24 gam Heroine; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, mảnh giấy gói; 01 chiếc lọ nhựa.Tịch thu của bị cáo Hoàng Văn I số tiền 500.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước; trả lại bị cáo Hoàng Văn I số tiền 200.000 đồng.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên, thành khẩn khai báo và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, Hoàng Văn I là người nghiện chất ma túy, với động cơ vụ lợi, mục đích kiếm lời bất chính, I đã mua chất ma túy, loại heroine đem về nhà chia thành nhiều gói nhỏ để vừa sử dụng, vừa bán cho người nghiện ma túy khác để kiếm lời. Từ ngày 06/6/2023 đến ngày 08/6/2023, tại nơi ở của Hoàng Văn I thuộc, bản N Ph, xã Ph S, thị xã Ng L. Hoàng Văn I đã 03 lần bán trái phép 05 gói Heroine cho Lường Văn Th, Hoàng Văn Th, Hoàng Văn H và Lò Văn L thu được tổng số tiền là 500.000 đồng. Trong đó có 02 lần I bán Heroine cùng một lúc cho 02 người đó là, ngày 06/6/2023 bán cho 02 người là Lường Văn Thí và Hoàng Văn Th; ngày 08/6/2023 bán cho 02 người là Hoàng Văn H và Lò Văn L. Khối lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang là 0,32 gam là ma túy, loại Heroine.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo Hoàng Văn I là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật đồng thời biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Từ đó đã có đủ căn cứ khẳng định hành vi mà bị cáo Hoàng Văn I thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” và “Tự thú” quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Về nhân thân: Bị cáo tuy là người không có tiền án, tiền sự, nhưng nghiện chất ma túy thể hiện là người có nhân thân xấu.

Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải xử lý bị cáo một cách nghiêm minh, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại Trại giam để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo nghiện chất ma túy và không có tài sản riêng. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

Tổng khối lượng heroine thu giữ trong vụ án là 0,32 gam, đã lấy 0,08 gam làm mẫu vật gửi giám định, còn lại 0,24 gam cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, mảnh giấy gói; 01chiếc lọ nhựa không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn I. Xét trong số tiền này có 300.000 đồng do In bán ma túy mà có cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước, còn lại 200.000 đồng của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Ngày 08/6/2023, I bán 02 gói ma túy cho Hoàng Văn Th và Lường Văn Th được số tiền 200.000 đồng, I đã chi tiêu hết nên cần tịch thu để nộp Ngân sách Nhà nước.

Các đối tượng và hành vi khác:

Lời khai Hoàng Văn I về nguồn gốc số ma túy là mua của một người đàn ông tên là “P” có con tên “L” ở xã P L, huyện Tr T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ đã tiến hành xác minh tại xã P L, huyện Tr T nhưng không có ai tên “P” có con tên “L” như I đã khai nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Hoàng Văn H có hành vi mua ma túy của Hoàng Văn I ngày 06/6/2023 và trưa ngày 08/6/2023 để sử dụng và đã sử dụng hết số ma túy đã mua, chiều ngày 08/6/2023 H đến nhà I đưa tiền cho I để mua ma tuý nhưng chưa nhận được ma tuý thì bị bắt nên không xác định được khối lượng chất ma tuý. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn H là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Lường Văn Th, Lò Văn L và Hoàng Văn Th đã có hành vi mua ma túy của Hoàng Văn I để sử dụng và đã sử dụng hết số ma túy đã mua được nên không xác định được khối lượng. Công an thị xã Nghĩa Lộ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lường Văn Th, Lò Văn L, Hoàng Văn Th là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn I phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt:

Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn I 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Vật chứng và tài sản tạm giữ được xử lý như sau:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,24 gam Heroine; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, mảnh giấy gói; 01 chiếc lọ nhựa.

Tịch thu của bị cáo Hoàng Văn I số tiền 500.000 đồng ( năm trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Trả lại bị cáo Hoàng Văn I số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

(theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tài sản tạm giữ ngày 06/9/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ và Cơ quan cảnh sát điều tra thị xã Nghĩa Lộ).

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn I phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ