- Tranh chấp gì? án hình sự — "La Hải Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo La Hải Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 28 tháng 8 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thuý
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn
Bà Nguyễn Thị sứ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mộng, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ tên: La Hải Đ
tên gọi khác: Không (có mặt)
- Sinh ngày: 20/02/2000;
- Hộ khẩu thường trú: Khóm X, phường Y, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu ;
- Chỗ ở hiện nay: Đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bạc Liêu;
- Dân tộc: Khơmer;
Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
- Nghề nghiệp: Làm thuê;
Trình độ văn hóa: 01/12;
- Cha: La Văn H, sinh năm 1978
- Mẹ: Đào Thị Thanh Ng, sinh năm 1983
- Anh chị em ruột có 03 người (tính luôn bị cáo), lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2002.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị khởi tố và bị tạm giam từ ngày 13/6/2023 cho đến nay;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 40 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2023, Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an thị xã R, tỉnh Bạc Liêu kết hợp cùng Công an phường Hộ Phòng, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu bắt quả tang La Hải Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại quần Jean bên phải, phía trước Đ đang mặc có 01 gói nylon màu trắng, bên trong goúi nylon có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, nghi là chất ma túy. Cơ quan điều tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong tang vật nêu trên theo đúng quy định pháp luật.
Quá trình điều tra La Hải Đ khai nhận: Gói ma túy nêu trên do Đ mua tại nhà Vũ Danh thuộc Khóm X, phường H, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu người bán ma túy cho Đ là một người phụ nữ không rõ nhân thân và đặc điểm nhận dạng do người này chỉ mở cửa sổ đủ để nhận tiền và giao gói ma túy, số tiền Đ mua ma túy là 200.000 đồng, mục đích mua ma túy là để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an bắt quả tang.
Tại kết luận giám định số 67/KL-KLHS, ngày 21/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu kết luận: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong gói nylon đã thu giữ trên người La Hải Đ là chất ma tuý; loại Methamphetamine có khối lượng 0,20022gam;
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKS-HS, ngày 10/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu truy tố: Bị cáo La Hải Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố, giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo La Hải Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (được sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo La Hải Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ các vật chứng là 01 gói niêm phong có đặc điêm số 67/GĐMT-2023, có chữ ký ghi tên Nguyễn Quốc Kh và có 04 dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau: Vào khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thị xã R kết hợp với Công an Phường H, thị xã R bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Gói ma túy nêu trên do bị cáo mua tại nhà Vũ Danh thuộc Khóm X, phường H, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu người bán ma túy cho bị cáo là một người phụ nữ không rõ nhân thân và đặc điểm nhận dạng do người này chỉ mở cửa sổ đủ để nhận tiền và giao gói ma túy, số tiền bị cáo mua ma túy là 200.000 đồng, mục đích mua ma túy là để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an bắt quả tang.
Tại kết luận giám định số số 67/KL-KLHS, ngày 21/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu kết luận: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong gói nylon là chất ma tuý; loại Methamphetamine; có khối lượng 0,20022gam; (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ). Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã R đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tính chất và mực độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, bị cáo nhận thức được rằng ma túy là chất kích thích Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng: Xét thấy đây là chất kích thích Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với địa điểm bị cáo xác định đã mua ma túy, qua xác minh là nhà của bà Nguyễn Ánh T nhưng bà T đã bỏ địa phương đi 02 năm nay, đi đâu là gì không rõ; hiện tại ngôi nhà trên không có người ở. Đối với người tên Vũ D và người bán ma túy cho bị cáo do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an thị xã R tách ra tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật là có căn cứ phù họp quy định pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo La Hải Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo La Hải Đ 01 (một) năm tù
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu huỷ: 01 gói niêm phong có đặc điêm số 67/GĐMT-2023, có chữ ký ghi tên Nguyễn Quốc Kh và có 04 dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
3. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo La Hải Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời han 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - Công an thị xã R; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R; - Bị cáo; - Lưu hs, TA. ngày kể từ ngày tuyên án Hội thẩm nhân dân Nghị án kết thúc vào lúc giờ phút ngày tháng năm 2023 cùng nghe và ký tên. Thành viên Hội đồng xét xử | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thuý 4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời han 15 Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |