- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Vũ Đức Th 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 25/11/2022;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 12-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bẩy;
2. Ông Trần Văn Nam.
Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Đức Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Tống Duy Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Đức Th; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 23/11/1987, tại thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/Cư trú hiện nay: Khu A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Vũ Văn S và bà: Trần Thị B; có vợ là Vũ Thị T, chưa có con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: + Ngày 24/9/2013, bị Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đến ngày 29/8/2019, chấp hành xong bản án. + Ngày 10/8/2010, Công an huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương xử phạt hành chính về hành vi: “Gây rối trật tự khu dân cư”. Ngày 12/8/2010, đã chấp hành xong. Bị bắt, giữ người trong Tr hợp khẩn cấp ngày 25/11/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều. Có mặt.
2. Họ và tên: Trương Quang Tr1; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 05/7/1981, tại K, Hải Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/Cư trú hiện nay: Khu Tr1, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Trương Trung K và bà: Nguyễn Thị V; có vợ và 02 con; tiền án: Ngày 16/4/2021, bị Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xử 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội: “Chống người thi hành công vụ”. Đến ngày 16/10/2022, chấp hành xong bản án. tiền sự: chưa; đầu thú ngày 21/4/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều. Có mặt.
3. Họ và tên: Trần Mạnh Tr; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 12/8/1988, tại thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/Cư trú hiện nay: thôn Đ, xã H, thị xã K, tỉnh Hải Dương; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Trần Văn N và bà: Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: Năm 2005, bị Công an thị xã K xử phạt hành chính về hành vi “Gây thiệt hại về tài sản của người khác”. Ngày 20/5/2005, đã chấp hành xong. Bị bắt, giữ trong Tr hợp khẩn cấp ngày 28/11/2022, hiện đang tạm giam. Có mặt.
4. Họ và tên: Trần Mạnh T; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 27/10/1999, tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/Cư trú hiện nay: tổ 8, khu Q, phường M, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Trần Văn T và bà: Nguyễn Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án: + Ngày 18/11/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh) tỉnh Hải Dương, xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 01/6/2019. + Ngày 19/11/2019, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 21 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” xảy ra vào các ngày 04, 05 và 11/6/2019. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 39 tháng tù. Ngày 24/9/2022, chấp hành xong Bản án. Tiền sự: chưa có; bị bắt, giữ trong Tr hợp khẩn cấp ngày 25/11/2022, hiện đang tạm giam. Có mặt.
* Người làm chứng: Vũ Thị T, Phạm Duy A, Trương Văn M, Nguyễn Thị N, Đặng Thị L, Nguyễn Thị N, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Mạnh T và anh Phạm A, sinh năm 1996, trú tại khu V, phường M, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, là bạn quan hệ xã hội. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/11/2022 T gọi điện thoại di động rủ anh A cùng sử dụng ma tuý, sau đó T thuê xe taxi của anh Trương Văn M, sinh năm 1970, trú tại khu Vĩnh Tuy 2, phường M, thị xã Đông Triều, đi đến đón Duy A rồi cả hai đi sang thị xã K, tỉnh Hải Dương để mua ma tuý về sử dụng. Trên đường đi khi ngồi trên xe T gọi điện thoại di động cho Vũ Đức Th hỏi và thoả thuận mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma tuý, loại Methamphetamine, T nợ 100.000đ (một trăm nghìn đồng) thì Th đồng ý. Do lúc này không ở nhà nên Th bảo T cứ đến nhà, rồi Th sẽ nhờ người bán ma tuý cho, đồng thời Th gửi tin nhắn cho T số điện thoại di động của Trương Quang Tr1 (là bạn Th), mục đích để T liên lạc với Tr1 mua ma tuý. Khi T và anh A đi đến đoạn Dốc Ngựa thuộc phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương thì anh A xuống xe taxi để đi giải quyết việc riêng đột xuất, còn T tiếp tục đi xe taxi đến nhà Th. Cùng thời điểm này, Th gọi điện thoại di động bảo Tr1 đến nhà, lên vị trí tủ nhựa trên tầng hai nhà Th lấy 01 (một) túi nilon chứa ma tuý, loại Methamphetamine bán cho khách, thì Tr1 đồng ý rồi đi đến nhà Th. Khi thấy Tr1 đến, T cầm 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để trên bờ tường trước cửa nhà Th. Tr1 cầm tiền và cất vào túi quần rồi đi lên vị trí tủ nhựa trên tầng hai như Th hướng dẫn, mở lấy 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng đi xuống để trên bờ tường trước cửa nhà Th. T nhìn thấy đi đến cầm túi nilon chứa chất ma tuý trên tay trái rồi đi ra xe taxi quay lại đi đón anh Duy A và đi về nhà T. Khi về đến nhà, T vào phòng ngủ lấy 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 (một) nắp chai nhựa đục 02 (hai) lỗ, một lỗ có gắn ống hút nhựa, một lỗ còn lại gắn ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn), mục đích pha chế ma túy để T và anh A cùng sử dụng, nhưng gặp mẹ đẻ của T say rượu mắng chửi nên T rủ anh A đi thuê phòng tại nhà nghỉ Phương Chi thuộc khu X, phường M, thị xã Đông Triều để sử dụng ma túy. Tại nhà nghỉ P, T trực tiếp thuê phòng và mua 01 (một) chai nước lọc rồi cả hai đi vào phòng nghỉ số 101, T mở chai nước lọc, lấy ma túy trong túi nilon cho vào trong cóong thủy tinh pha chế, đồng thời dùng bật lửa đốt nóng nỏ thủy tinh rồi sử dụng ma túy bằng hình thức “hút”, sau đó T mời anh A sử dụng thì anh A cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có sẵn ma túy do T đã pha chế tự sử dụng bằng hình thức “hút”. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị xã Đông Triều kiểm tra hành chính phòng nghỉ số 101, của T thuê phát hiện thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy có chất cặn màu xám trắng trong bầu tròn ống thủy tinh (ký hiệu M1); 01 (một) vỏ túi nilon bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2). Ngoài ra còn thu giữ của T 01 (một) điện thoại di động Iphone 6 Plus gắn sim 0898526825.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 25/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều, khám xét khẩn cấp chỗ ở và bắt, giữ người trong Tr hợp khẩn cấp đối với Vũ Đức Th. Thu giữ tại nơi ở của Th gồm: Trên giường trong phòng ngủ tầng hai 01(một) hộp giấy màu trằng bên trong có 02 (hai) túi nilon kích thước (4x7)cm chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3, M4), 08 (tám) túi nilon kích thước (1,5x2)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu từ M5 đến M12), 02 (hai) túi nilon kích thước (02x02)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M13, M14); 01 (một) túi nilon kích thước (8x12)cm bên trong chứa 30 (ba mươi) vỏ túi nilon; 01 (một) kéo; 01 (một) cân điện tử; 04 (bốn) ống hút nhựa bị cắt vát một đầu. Thu trên nền nhà 01 (một) hộp giấy bên trong có 01 (một) hộp nhựa bên trong có 01 (một) túi nilon kích thước (3x3)cm chứa 01 (một) viên nén hình trụ tròn màu xám (ký hiệu M15) và 01 (một) điện thoại di động Nokia gắn sim 0397930651 và 0965777049.
Tại bản Kết luận giám định số 1916/KL-KTHS ngày 02/12/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật ghi thu của Trần Mạnh T ký hiệu M1, M2 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng: dạng vết không xác định được khối lượng.
Mẫu vật ghi thu của Vũ Đức Th ký hiệu từ M3 đến M14 gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng lần lượt như sau: M3: 8,47gam (tám phẩy bốn bẩy gam); M4: 6,507gam (sáu phẩy năm không bảy gam); M5: 0,179gam (không phẩy một bảy chín gam); M6: 0,181gam (không phẩy một tám một gam); M7: 0,171gam (không phẩy một bảy một gam); M8: 0,192gam (không phẩy một chín hai gam); M9: 0,194gam (không phẩy một chín bốn gam); M10: 0,195gam (không phẩy một chín năm gam); M11: 0,182gam (không phẩy một tám hai gam); M12: 0,2gam (không phẩy hai gam); M13: 0,293gam (không phẩy hai chín ba gam); M14: 0,298gam (không phẩy hai chín tám gam). Mẫu vật ký hiệu M15 gửi giám định là ma túy; loại: MDMA; khối lượng: 0,421gam (không phẩy bốn hai một gam). Tổng khối lượng là 17,062gam (mười bảy phẩy không sáu hai gam Methamphetamine và 0,421gam (không phẩy bốn hai một gam) MDMA.
(Methamphetaminenằm trong Danh mục IIC, STT:247; MDMA nằm trong Danh mục IB, STT: 11 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022, của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Tại phiếu xét nghiệm nước tiểu ngày 26/11/2022, của Tr1 tâm y tế thị xã Đông Triều kết luận: Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Mạnh T, Phạm A và Vũ Đức Th dương tính với chất ma túy, loại: Methamphetamine, Amphetamine.
Quá trình điều tra Vũ Đức Th, Trần Mạnh T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngoài ra Vũ Đức Th khai nhận như sau: Th và Trương Quang Tr1, trú tại khu An Tr1, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương và Trần Mạnh Tr, trú tại thôn Đ, xã Hiệp Hoà, thị xã K, tỉnh Hải Dương là bạn xã hội và quan hệ với nhau từ bé, đồng thời Tr thường xuyên qua nhà Th chơi nên biết Th có bán ma túy, loại Methamphetamine. Nên từ ngày 20/11/2022 đến ngày 25/11/2022 thì Tr và Tr1 đã mua, bán hộ ma túy cho Th, cũng như Tr đã mua ma túy của Th để sử dụng, cụ thể:
Chiều ngày 20/11/2022, do có nhu cầu mua ma túy loại Methamphetamine để bán nhưng không biết chỗ mua, vì vậy Th gọi điện thoại di động cho Tr nhờ mua hộ ma túy để bán, thì Tr đồng ý. Sau đó Tr đến nhà Th, tại đây Tr gọi điện thoại di động cho một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ), khi gọi điện thoại Tr có mở loa ngoài điện thoại cho Th cùng nghe rồi Tr hỏi giá 01 (một) hộp 10 (tức là 10 (mười) gam ma túy, loại Methamphetamine thì T nói giá 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Th ngồi cạnh, nghe thấy vậy thì “Gật đầu” đồng ý nên Tr tiếp tục thỏa thuận với T mua 10 (mười) gam ma túy, loại Methamphetamine. T yêu cầu Tr phải chuyển khoản tiền mua ma túy cho T trước và thống nhất địa điểm mua bán ma túy ở khu vực ngã tư Quán Toan, phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Thỏa thuận xong Th và Tr đi đón xe taxi đi đến địa điểm như đã hẹn, trên đường đi Th đưa 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) cho Tr đồng thời bảo Tr chuyển khoản tiền mua ma túy cho đối tượng T. Khi cả hai đi đến cây xăng Hiệp An thuộc phường Hiệp Sơn, thị xã K, tỉnh Hải Dương, thì Th xuống xe taxi gặp chị Vũ Thị T, sinh năm 1989 (là vợ Th), lấy thẻ ATM rồi Th đi rút thêm 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Lúc này, Tr ngồi trên xe taxi đã đưa tiền và đọc số tài khoản nhờ người đàn ông lái xe taxi chuyển khoản tiền mua ma túy trước cho đối tượng T.
Sau khi rút tiền xong, Th quay lại và lên xe taxi tiếp tục đưa cho Tr 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) rồi bảo Tr gọi điện thoại cho đối tượng T đặt mua thêm 10 (mười) gam ma túy, loại Methamphetamine, Tr đồng ý và gọi điện thoại di động ngay cho T, thỏa thuận mua thêm 10 (mười) gam ma túy, khi nhận ma túy sẽ trả tiền, thì T đồng ý rồi hướng dẫn cho Tr đi đến khu vực đường dân sinh thuộc thôn 6, xã Tân Tiến, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng để giao dịch mua bán ma túy. Khi đến địa điểm như đã hẹn, một mình Tr xuống xe taxi, thì nhìn thấy T đang ngồi trên xe mô tô ở lề đường nên đi đến tiếp tục đưa cho đối tượng T 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và đối tượng T đưa lại cho Tr 01 (một) bọc giấy vệ sinh màu trắng, Tr nhận rồi cất vào trong túi quần rồi quay lại nên xe taxi lấy ra đưa cho Th. Th cầm rồi mở ra kiểm tra thấy bên trong có 02 (hai) túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm, chứa chất tinh thể màu trắng, nên Th đã cất trong túi quần đang mặc rồi cả hai tiếp tục đi xe taxi quay về nhà Th. Tại đây Th lấy một phần nhỏ ma túy trong 01(một) túi nilon vừa mua cho vào 01 (một) túi nilon kích thước (2x2)cm đưa cho Tr mục đích trả công do mua ma túy hộ Th. Tr nhận rồi mang về nhà tàng trữ sử dụng hết.
Khoảng 09 giờ ngày 25/11/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tr gọi điện thoại di động cho Th để hỏi mua nợ 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) ma tuý, loại Methamphetamine, thì Th đồng ý. Tuy nhiên, lúc này Th không có ở nhà, nên đã bảo Tr cứ đến nhà, Th sẽ bảo người bán ma tuý cho Tr, rồi Th tiếp tục gọi điện thoại di động qua ứng dụng Messenger bảo Tr1 đến nhà Th lấy ma tuý, loại Methamphetamine để trong tủ nhựa trên tầng hai bán cho Tr thì Tr1 đồng ý và đi đến nhà Th chờ. Khoảng 10 phút sau, Tr đi đến nhà Th, gặp Tr1 đang ngồi trong phòng khách nên Tr nói: “Em điện cho anh Th rồi đấy” thì Tr1 trả lời “Mày điện cho nó đi, anh không biết”. Thấy vậy, Tr gọi điện thoại cho Th rồi đưa điện thoại để Tr1 nói chuyện với Th thì Th nói: “Chỗ thằng Tr, anh lấy gói năm trăm bọc trong giấy vệ sinh trong ngăn tủ nhựa đưa cho nó” thì Tr1 đồng ý, rồi bảo Tr đi ra ngoài sân chờ, còn Tr1 đi lên trên tầng hai theo chỉ dẫn của Th trước đó mở ngăn kéo thứ hai của tủ hướng từ trên xuống thì thấy bên trong có 01 (một) bọc giấy vệ sinh màu trắng và 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng. Tr1 lấy bọc giấy vệ sinh, mở ra thấy bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng nên gói lại rồi cầm xuống nhà để ở khe cửa sổ phòng khách. Tr đứng ngoài sân nhìn thấy Tr1 để bọc giấy vệ sinh trên khe cửa nên đi đến lấy và mở ra kiểm tra thấy đúng là ma tuý, loại Methamphetamine, nên Tr mang túi nilon ma túy này đi về nhà sử dụng hết, còn Tr1 sau khi bán ma túy hộ Th xong thì cũng đi về nhà. Đến chiều cùng ngày Tr1 quay lại nhà gặp Th và đưa cho Th 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) tiền bán ma túy cho Trần Mạnh T trước đó.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ ngày 28/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều, tiếp tục khám xét khẩn cấp chỗ ở và bắt, giữ người trong Tr hợp khẩn cấp đối với Trần Mạnh Tr và đến ngày 21/4/2023 thì Trương Quang Tr1 tự nguyện đến Công an thị xã Đông Triều đầu thú. Tại Cơ quan điều tra Trần Mạnh Tr và Trương Quang Tr1 đều khai nhận hành vi phạm tội của minh như đã nêu trên
Về nguồn gốc ma túy, loại MDMA thu giữ trong phòng ngủ, Th khai: Khoảng tháng 10/2022, do có nhu cầu mua ma túy, loại MDMA để bán kiếm lời nên Th đi đến khu vực ga Phú Thái, thị xã K, tỉnh Hải Dương, gặp và thỏa thuận của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 2.000.000đ (hai triệu đồng) được 05 (năm) viên nén hình trụ tròn màu xám, được gói trong gói giấy vệ sinh. Sau khi mua được ma túy, Th mang về cất giấu trong hộp nhựa tại phòng ngủ trên tầng hai và đã bán 04 (bốn) viên ma túy MDMA cho những người không quen biết được 2.000.000đ (hai triệu đồng), còn lại 01 (một) viên ma túy chưa kịp bán thì bị thu giữ. Đối với số ma túy, loại Methamphetamine bị thu giữ, đây là toàn bộ số ma túy mà Th nhờ Tr mua hộ ngày 20/11/2022, Th đã chia một phần vào các túi nhỏ có kích thước (2x2)cm và (1,5x2) cm và đã bán được một phần. Số ma túy chưa chia Th vẫn để trong túi nilon kích thước (4x7)cm chưa kịp bán thì bị Công an bắt, thu giữ.
Tại bản Cáo trạng số 46 ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đã truy tố Vũ Đức Th về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Trần Mạnh Tr tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Trương Quang Tr1 tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Trần Mạnh T tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử
Căn cứ: điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Đức Th từ 9 đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 25/11/2022;
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Quang Tr1 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 21/4/2023;
Căn cứ: điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh Tr 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 28/11/2022;
Căn cứ: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh T từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 25/11/2022;
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại theo Kết luận giám định số 1916/KLGĐ ngày của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Ninh; 05 sim điện thoại.
- Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen; 01 (một) điện thoại di động NOKIA, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi poco, màu vàng;
Truy thu của bị cáo Vũ Đức Th 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng sung ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều; đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Đông Triều và điều tra viên; của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, cơ quan Điều tra Công an thị xã Đông Triều và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và truy tố. Vì vậy, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về đánh giá chứng cứ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Đức Th, Trương Quang Tr1, Trần Mạnh Tr và Trần Mạnh T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của những người làm chứng Phạm A, Vũ Thị T, Trương Văn M, Nguyễn Thị N, Đặng Thị L, Nguyễn Thị N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản bắt người trong Tr hợp khẩn cấp; bản ảnh hiện Tr; biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 20/11/2022, tại khu vực thôn 6, xã Tân Tiến, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, Vũ Đức Th và Trần Mạnh Tr có hành vi mua 02 (hai) túi nilon ma túy loại Methamphetamine với giá 15.000.000đ (mười năm triệu đồng) để Th mang về tàng trữ nhằm mục đích để bán, đồng thời Th còn có hành vi mua và tàng trữ trái phép 0,421gam (không phẩy bốn hai một gam) ma túy, loại MDMA cũng nhằm mục đích để bán. Sau đó, Th đã bán cho một số đối tượng, đến ngày 25/11/2022 thì bị Công an bắt, khám xét khẩn cấp thu giữ 17,062gam (mười bảy phẩy không sáu hai gam) ma túy, loại Methamphetamine và 0, 421gam (không phẩy bốn hai một gam) ma túy, loại MDMA.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/11/2022, tại nhà của Vũ Đức Th ở khu An Tr1, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Trương Quang Tr1 có hành vi giúp Vũ Đức Th bán trái phép 01 (một) túi nilon ma túy, loại Methamphetamine với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) cho Trần Mạnh Tr để Tr sử dụng.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, cũng tại nhà của Vũ Đức Th, Trương Quang Tr1 có hành vi giúp Vũ Đức Th bán trái phép 01 (một) túi nilon ma túy, loại Methamphetamine với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) cho Trần Mạnh T (T còn nợ lại 100.000 đồng).
Tiếp đó, đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, tại phòng số 101 nhà nghỉ P thuộc khu Xuân Quang, phường Yên Thọ, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Trần Mạnh T có hành vi pha chế và cung cấp trái phép chất ma túy cho anh Phạm A sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là các quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy. Các bị cáo là người đã trưởng thành, đủ khả năng nhận thức điều khiển hành vi của mình và hiểu rõ tác hại của ma túy cũng như sự nghiêm cấm của pháp luật đối với các hành vi liên quan đến ma túy. Hành vi nêu trên của bị can Vũ Đức Th đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị can Trần Mạnh Tr đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của Trương Quang Tr1 đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của Trần Mạnh T đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các Tr hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
...
i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XlR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
...
p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;
…”.
Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
…”.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và quan điểm của kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa truy tố các bị cáo ra xét xử trước Tòa án theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, cần chấp nhận. Việc đưa bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra là cần thiết.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án:
+ Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy: Bị cáo Th là người đưa tiền tiền chủ động nhờ bị cáo Tr mua ma túy về bán và chỉ đạo bị cáo Tr1 bán ma túy nên giữ vai trò chính; bị cáo Tr1 giúp bị cáo Th bán ma túy cho Tr và T, bị cáo Tr giúp Th mua ma túy về bán nên có vai trò ngang sau bị cáo Th;
+ Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Bị cáo T giữ vai trò độc lập trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: các bị cáo Vũ Đức Th và Trần Mạnh Tr có nhân thân xấu do đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trương Quang Tr1 có 01 tiền án, bị cáo Trần Mạnh T có 2 tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Trương Quang Tr1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS.
Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo ý nghĩa giáo dục riêng, phòng ngừa chung; căn cứ vào hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) hộp giấy màu đỏ, bên trong có 01 hộp nhựa dạng hộp kẹo cao su Xyliton, màu xanh trắng, trong hộp nhựa có 01 túi nilon; 01 (một) túi nilon kích thước (8x12)cm bên trong chứa 30 (ba mươi) vỏ túi nilon; 01 (một) kéo; 01 (một) cân điện tử; 04 (bốn) ống hút nhựa bị cắt vát một đầu cơ quan điều tra đã tiêu hủy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 thẻ sim số 0965777049; 01 thẻ sim số 0397930651; 01 thẻ sim số 0384477632; 01 thẻ sim số 0898526825; 01 thẻ sim số 0325444524 là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen; 01 (một) điện thoại di động NOKIA, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi poco, màu vàng là vật dụng các bị cáo sử dụng liên lạc phục vụ cho việc mua, bán và tổ chức sử dụng ma túy nên cần tịch thu phát mại sung công.
Về biện pháp tư pháp khác: đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo Vũ Đức Th có được từ việc bán ma túy cho Trần Mạnh T đã chi tiêu hết là tiền có được do phạm tội cần truy thu để sung ngân sách nhà nước.
Những vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho Vũ Đức Th và Trần Mạnh Tr ngày 20/11/2022, cũng như người đàn ông bán ma túy cho Th tại ga Phú Thứ, thị xã K, tỉnh Hải Dương và người đàn ông lái xe taxi chở bị cáo Vũ Đức Th, Trần Mạnh Tr đi sang Quán Toan, Hải Phòng mua ma túy cũng như giúp các bị can chuyển tiền mua ma túy cho đối tượng tên T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Việc chị Vũ Thị T (vợ của Th) là người đã đưa thẻ ATM cho Th rút tiền để mua ma túy và anh Trương Văn M là người lái xe taxi chở bị can Trần Mạnh T sang thị xã K, tỉnh Hải Dương mua ma túy của Th ngày 25/11/2022. Quá trình điều tra xác định chị T và anh M không biết việc Th, T mua, bán ma túy để kiếm lời và sử dụng nên không đề cập xử lý.
Đối với anh Phạm A là người được Trần Mạnh T cho sử dụng ma tuý cùng, quá trình điều tra xác định anh A không biết và không tham gia vào việc đi mua ma túy, cũng như chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, pha chế, nên không có căn cứ để xử lý về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Ngày 19/4/2023, Công an thị xã Đông Triều đã ra Quyết định xử phạt hành chính.
Đối với những người bị can Vũ Đức Th khai đã bán ma túy loại Methamphetamine và MDMA, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch và địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 17; Điều 58; điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Đức Th 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 25/11/2022;
Căn cứ: Điều 17; Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Quang Tr1 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 21/4/2023;
Căn cứ: Điều 17; Điều 58; điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh Tr 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 28/11/2022;
Căn cứ: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh T 36 (ba sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 25/11/2022;
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại theo Kết luận giám định số 1916/KLGĐ ngày của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Ninh.
- Tịch thu tiêu hủy 5 sim điện thoại.
- Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen; 01 (một) điện thoại di động NOKIA, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi poco, màu vàng
(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 65 ngày 08/6/2023 giữa Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều).
Truy thu của bị cáo Vũ Đức Th 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng sung ngân sách nhà nước.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Buộc Vũ Đức Th, Trương Quang Tr1, Trần Mạnh Tr, Trần Mạnh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Tr hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 – Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan Điều tra, Cơ quan THA hình sự, Nhà tạm giữ - Công an thị xã Đông Triều; Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Lưu hồ sơ, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Bình |