vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 05 (năm) 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/10/2022. Vật chứng: Tịch thu để hủy 0,2 gam Heroine và 01 mảnh nilon đã niêm phong (Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 01 năm 2023 giữa Chi cục thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 51/2023/HS-ST
Ngày: 15 - 02- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Đại Dương và bà Đỗ Thị Thu Hà;

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 10 tháng 01 năm 1978, tại tỉnh Đ; nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; con ông: Lò Văn X và bà Lò Thị L; vợ: Lò Thị Y; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh 2012;

Tiền án: Có 02 tiền án; cụ thể: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xử phạt 05 năm tù về tội " Cố ý gây thương tích" tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2015/HSST ngày 26/8/2015; chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2019, nhưng chưa bồi thường cho bị hại. Năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HSST ngày 28/10/2020 với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm"; chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/10/2021, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không; nhân thân: Ngoài 02 tiền án trên, không có gì đặc biệt; bị tạm giữ từ ngày 19/10/2022, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/10/2022, tại khu vực bản Lọng Háy, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ; Công an thành phố Điện Biên Phủ phát hiện bắt quả tang bị cáo Lò Văn T đang cầm trong tay trái 01 gói nilon màu hồng, bên trong có các cục chất bột màu trắng đục; bị cáo khai đó là Heroine, trước đó bị cáo mua của một người đang ông không quen biết đang đứng bên đường thuộc bản Lọng Háy, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ với giá 50.000 đồng, để bị cáo sử dụng; trên đường về thì bị bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ số chất bột màu trắng đục thu giữ của bị cáo đi giám định. Kết luận giám định số 1387/KL-KTHS ngày 27/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu các cục chất bột màu trắng đục gửi giám định có khối lượng 0,29 gam; là chất ma túy loại Heroine (nằm trong danh mục các chất ma túy theo số thứ tự 09, mục IA, danh mục I Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ); hoàn lại 0,2 gam mẫu vật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.

3. Cáo trạng số 11/CT-VKSTPĐBP ngày 18/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng Điều 38, điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; vật chứng còn lại tịch thu để hủy; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Ngày 19/10/2022, tại khu vực bản Lọng Háy, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ; bị cáo Lò Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,29 gam Heroine với mục đích để sử dụng và đã bị Công an thành phố Điện Biên Phủ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật vào lúc 15 giờ 30 phút cùng ngày. Trước đó, năm 2015 bị cáo bị kết án về tội "Cố ý gây thương tích" và phải bồi thường cho bị hại, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án này nhưng chưa bồi thường cho bị hại, mặc dù họ đã có yêu cầu; năm 2020 bị cáo bị kết án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" và chưa được xóa án tích.

Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...o) Tái phạm nguy hiểm”.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và thuộc trường hợp "Tái phạm nguy hiểm" theo khoản 2 điều luật đã viện dẫn trên do đã tái phạm chưa được xóa án tích, mà lại phạm tội do cố ý, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma tuý trái phép; cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo thì bị cáo ngoài làm ruộng ra không có nghề nghiệp, thu nhập gì khác; không có tài sản gì đáng kể, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và các vấn đề khác: Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu để hủy cùng vật dùng để gói ma túy không còn giá trị sử dụng. Bị cáo khai mua ma túy của một người không quen biết nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, ở xã đặc biệt khó khăn theo quyết định số 861/QĐ-Ttg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng chính phủ; tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 05 (năm) 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/10/2022.

3. Vật chứng: Tịch thu để hủy 0,2 gam Heroine và 01 mảnh nilon đã niêm phong (Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 01 năm 2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).

4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/02/2023).

Cỡ chữ