vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Âu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Âu Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/01/2023 đến ngày 06/01/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Âu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HS-ST
Ngày 11/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Đình Hưng

2. Ông Đỗ Trung Xuân

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Sỹ Cách - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 5 năm 2023, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2023/HSST, ngày 14 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Âu Văn T, sinh ngày 07/7/1981; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Âu Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; Có vợ là Nông Thị T1 và 02 con; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/3/2020, bị Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt số 204, đã chấp hành nộp phạt ngày 30/3/2020.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/01/2023 đến ngày 06/01/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị T1 sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn;(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 01/01/2023, tại khu vực tổ B, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy - Công an thành phố Bắc Kạn phát hiện, bắt quả tang Âu Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra thu giữ tại túi quần đằng trước bên trái đang mặc trên người của T 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE, bên trong có 02 (hai) gói nhỏ đều được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột nghi là chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong toàn bộ số chất màu trắng nêu trên trong phong bì ký hiệu T1. Ngoài ra, còn tạm giữ của Âu Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen trắng, Biển kiểm soát 97B1-266….

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn đã tiến hành cân xác định khối lượng số chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 xác định được tổng khối lượng là 0,39g (không phẩy ba chín gam). Sau khi cân, đã tiến hành niêm phong toàn bộ số chất màu trắng nêu trên vào trong phong bì ký hiệu A1 gửi trưng cầu giám định chất ma túy; phong bì, vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE và giấy gói cũ được niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 bảo quản theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 26/KL-KTHS ngày 07/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,39g (không phẩy ba chín gam)”. Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu T21 hoàn trả lại Cơ quan trưng cầu giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Âu Văn T khai nhận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 31/12/2022, Âu Văn T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 97B1-266… đi từ nhà ở thuộc thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đến khu vực Bến xe khách tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ B, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể 02 (hai) gói nhỏ ma tuý loại Heroine, với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Âu Văn T cất giấu ma túy trên người rồi đi về nhà. Sau khi về nhà, Âu Văn T không sử dụng số ma túy vừa mua được, T cũng không nói cho mọi người trong gia đình biết việc T tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến sáng ngày 01/01/2023, Âu Văn T lấy 02 (hai) gói ma túy trên cất vào trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE, rồi cất giấu vào túi quần đằng trước bên trái T đang mặc, mục đích là để khi nào lên cơn thèm chất ma túy thì sử dụng. Sau đó, Âu Văn T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 97B1-266… để đi uống thuốc Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone tỉnh Bắc Kạn có địa chỉ tại tổ B, phường N, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, sau khi uống thuốc Methadone xong, trên đường đi về nhà, khi đi đến khu vực thuộc tổ B, phường H, thành phố Bắc Kạn thì Âu Văn T bị Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy - Công an thành phố Bắc Kạn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật như đã nêu trên.

Lời khai nêu trên của Âu Văn T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSTP ngày 13/4/2023 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Âu Văn T về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

*Tuyên bố bị cáo Âu Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Âu Văn T từ 15 (mười năm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T21; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2.

- Tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh trắng, bên trong điện thoại có 01 sim, đã qua sử dụng để thi hành án cho bị cáo.

- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát 97B1-266…, số khung: 5228CY816…, số máy: JC52E5398… cùng 01 chìa khóa xe và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0242… mang tên Nông Thị T1, biển số đăng ký 97B1-266… do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 22/5/2013; còn ½ giá trị của chiếc xe mô tô trả lại cho bà Nông Thị T1.

*Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Âu Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Ngày 01/01/2023, tại khu vực tổ B, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Âu Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,39g (Không phẩy ba chín gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ toàn bộ tang vật.

Hành vi nêu trên của Âu Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

... c) Heroine, Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Cáo trạng số 32/CT-VKSTP ngày 13/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an - xã hội của địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo và có Bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Xét bị cáo có sức khỏe nhưng không chịu làm ăn lương thiện, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý; nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Trong vụ án này, còn có người đàn ông (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) theo lời khai của Âu Văn T là người bán trái phép chất ma túy cho T vào ngày 31/12/2022 tại khu vực Bến xe khách tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ B, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên, hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về vật chứng trong vụ án:

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T21 và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh trắng, bên trong điện thoại có 01 sim, đã qua sử dụng là của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát 97B1-266…, số khung: 5228CY816…, số máy: JC52E5398… cùng 01 chìa khóa xe và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0242… mang tên Nông Thị T1, biển số đăng ký 97B1-266… do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 22/5/2013. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Nông Thị T1 cho rằng đây là tài sản riêng của bà nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Vì vậy, cần xác định chiếc xe mô tô này là tài sản chung của vợ chồng, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo và vợ là Nông Thị T1, nên cần tuyên tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của xe mô tô; còn ½ giá trị của xe mô tô trả lại cho bà Nông Thị T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy và không có tài sản, nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Âu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: bị cáo Âu Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/01/2023 đến ngày 06/01/2023).

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T21; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh trắng, bên trong điện thoại có 01 sim, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.

- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát 97B1-266…, số khung: 5228CY816…, số máy: JC52E5398… cùng 01 chìa khóa xe và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0242… mang tên Nông Thị T1, biển số đăng ký 97B1-266… do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 22/5/2013; còn ½ giá trị của chiếc xe mô tô trả lại cho bà Nông Thị T1.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/4/2023 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí. Buộc bị cáo Âu Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự” - Theo Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ