- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Kim Thoa + Đp - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 29-9-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Bình
Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Trung
Ông Điểu Bách
Ông Phạm Quang Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Như Quỳnh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lụa- Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Trần Kim T, sinh ngày 20 tháng 03 năm 1993 tại Cà Mau.
Nơi thường trú: ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện nay: tổ G khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn X, sinh năm 1959 và bà Đinh Thị T1, sinh năm 1961; bị cáo có 02 anh chị ruột, bị cáo là con út trong gia đình; sống chung với anh Phan Thanh T2 (không đăng ký kết hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 2013;
Tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 07 năm 6 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 59/2017/HSST ngày 24/7/2017, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 06/10/2021, nhưng chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Năm 2022 bị Công an xã T, thị xã C, tỉnh Bình Phước xử phạt 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 22/QĐ-XPVPHC ngày 24/8/2022, bị cáo đã nộp phạt ngày 25/8/2022.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2023 đến ngày 28/3/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Đào Duyên K, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1995 tại Bình Phước
Nơi thường trú: tổ B, khu phố A, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện nay: tổ G, khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Chí Hương N, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1977; bị cáo là con một trong gia đình; có vợ là Lý Thị Mộng H1, sinh năm 1991 (đã ly hôn), sống chung như vợ chồng với Trần Kim T, sinh năm 1993 (không đăng ký kết hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 2016
Tiền án:
Ngày 24/11/2017 bị TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 01 năm kể từ ngày 24/11/2017 theo Bản án số 96/2017/HSST, bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách.
Ngày 09/11/2018 bị TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 86/2018/HSST,
Ngày 28/02/2019, bị TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 13/2019/HSST. Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù theo Bản án số 86/2018/HSST buộc bị cáo phải chấp hành 03 năm tù. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 14/7/2021, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/5/2023 nhưng chưa được xóa án tích
Ngày 13/12/2022, bị TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 111/2022/HSST, thời hạn tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành. Bị cáo chưa chấp hành án.
Tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023 đến ngày 28/3/2023, ngày 29/3/2023 thì bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Thị Thúy H2, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1980 tại Trà Vinh
Nơi thường trú: số D khóm B, phường E, thành phố T, Trà Vinh; nơi ở hiện nay: tổ A, ấp E, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: cạo mủ; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1946 và bà Đặng Thị H3, sinh năm 1958; bị cáo là con một trong gia đình; bị cáo sống chung với anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1977 (không đăng ký kết hôn); bị cáo có một người con sinh năm 2003.
Tiền án: Ngày 08/3/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 03 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 53/2017/HSST, bị cáo đã chấp hành án xong ngày 13/5/2021 nhưng chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023 đến ngày 28/3/2023, ngày 29/3/2023 thì bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Đinh Thế V, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1984 tại Thanh Hóa
Nơi thường trú: tổ A, ấp E, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Tiến B1, sinh năm 1960 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1959; bị cáo có vợ là Trịnh Thị Bích C, sinh năm 1986; bị cáo có 02 người con, sinh năm 2015 và 2018; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023 đến ngày 28/3/2023, ngày 29/3/2023 thì bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Kim T và Đào Duyên K
Luật sư Phạm Quốc L1- Công ty L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B
Địa chỉ: đường N, khu phố T, thị trấn C, tỉnh Bình Phước
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Thế T3, sinh năm 1987
Trú tại: Tổ 1, khu phố 1, phường Thành Tâm, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
2. Anh Nguyễn Công L2, sinh năm 1991
Trú tại: tổ A, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương
3. Chị Nguyễn Kim L3, sinh năm 1997
Trú tại: tổ 3, khu phố 2, phường Thành Tâm, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
4. Anh Gịp Minh Tuấn H4, sinh năm 1994
Trú tại: tổ 7, khu phố 1, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
5. Anh Trần Thanh V1, sinh năm 1993
Trú tại: khu phố Trung Lợi, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
6. Anh Hoàng Duy K1, sinh năm 1988
Trú tại: tổ 5, ấp 9, xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
7. Anh Nguyễn Anh T4, sinh năm 1995
Trú tại: ấp 5, xã Tân Quan, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
8. Chị Hồ Thị Thúy L4, sinh năm 1990
Trú tại : tổ 3, khu phố 2, phường Thành Tâm, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
9. Anh Trƣơng Văn S, sinh năm 1996
Trú tại: tổ D, khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Người làm chứng:
1. Anh Phạm Văn H5, sinh năm 1969
2. Anh Lê Hoàng H6, sinh năm 1968
Cùng trú tại: khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Kim T, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1993, hộ khẩu thường trú: ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nơi ở hiện tại: tổ G, khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước) chung sống như vợ chồng với Đào Duyên K, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1995, hộ khẩu thường trú: tổ B, khu phố A, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Nơi ở hiện nay: tổ G, khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước) tại tổ G, khu phố T, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
Ngày 17/3/2023, T liên hệ với đối tượng có tài khoản zalo tên “Khánh Trần” mua 8.000.000 đồng ma túy loại Methamphetamine, nhờ người đàn ông (không rõ nhân thân) chạy xe ôm ở khu vực phường H mà T quen biết, nộp 8.000.000.000 đồng vào tài khoản của “Khánh Trần” tại ngân hàng Á (không nhớ số tài khoản cụ thể). Khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, theo vị trí mà T gửi, “Khánh Trần” mang ma túy đến ném vào trước nhà cho T. Khi T và K về đến nhà T nhìn thấy gói nylon màu đen bên trong có một túi nylon một đầu khóa miết chứa tinh thể màu trắng (ma túy đá), T cầm gói ma túy vào trong nhà đưa cho K chia gói ma túy thành hai phần: một phần lớn để trong gói nylon hàn kín, một đầu khóa miết kích thước 13,5 cm x 7,8 cm được Khôi cất giấu dưới viên gạch phía trước nhà; một phần nhỏ do T cất dấu sau đó T chia nhỏ ma túy thành nhiều gói nhỏ tương ứng với số số tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng/gói, rồi để vào hộp giấy để trên bàn gỗ trong phòng bếp.
Ngày 18 và 19/3/2023, Nguyễn Thế T3 (N1), sinh năm 1987, nơi thường trú: Tổ A, khu phố A, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước, sử dụng mạng xã hội Zalo có tên đăng nhập “Thế Trọng” gọi cho T hỏi mua ma túy, được T đồng ý. Thoa lấy ma túy cất dấu trước đó để vào trong vỏ gói thuốc lá hiệu Saigon bạc rồi giao cho T3 (Nhí): lần thứ nhất do K mang đến giao trực tiếp tại nhà cho T3, K nhận 300.000 đồng tiền mua ma túy từ T (nhí) mang về đưa cho T; Lần thứ hai: Thoa quăng gói ma túy ra phía trước cổng nhà rồi gọi T3 (N1) đến lấy; T3 (Nhí) chuyển 200.000 đồng vào ví điện tử Zalopay qua số điện thoại 0335.541.407 cho T.
Quá trình điều tra xác định ngày 18, 19 và 20 tháng 3 năm 2023, T, K, bạn của T tên Nguyễn Thị Thúy H2, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1980, nơi thường trú: số D khóm B, phường E, thành phố T, Trà Vinh (Nơi ở hiện tại: tổ A, ấp E, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương), bạn trai của H2 tên Đinh Tiến V2, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1984, nơi thường trú : ấp E, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương (bạn trai của H2) có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà do T thuê ở tổ G, khu phố T, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Sau khi sử dụng ma túy xong, V2 hỏi T “còn không chia cho anh một ít”. T sử dụng ống hút được cắt nhọn một đầu, chia ma túy cất dấu trước đó vào túi nylon nhỏ đưa cho V2, nói “Anh cầm về để dành chơi”, V2 cầm gói ma túy, sau đó chia nhỏ vào 09 (chín) đoạn ống hút hàn kín hai đầu, trong đó có 02 đoạn có kích thước (3 x 1) cm, 07 đoạn có kích thước (2,5 x 0,7) cm, cất vào túi quần rồi đi ra phía trước nhà T nằm võng bấm điện thoại. Gói ma túy sau khi chia một phần cho V2, T để lại trên bàn gỗ trong phòng bếp.
Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 20/3/2023, K chở T, còn H2 tự đi xe mô tô biển số 93M1-273.79 của V2, cùng đến Phòng khám B2 tại số B, Quốc lộ A, thị xã C, tỉnh Bình Phước, khám thai cho T. Trước khi đi, K đã lấy gói ma túy K cất dấu dưới viên gạch phía trước nhà mang theo, sau đó K đưa lại gói ma túy cho T trước cửa Phòng khám B2; đối với gói ma túy T để trên bàn gỗ trong phòng bếp do H2 cất dấu. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, V2 đang nằm võng phía trước nhà T, thì bị lực lượng công an đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần của V2 09 (chín) đoạn ống hút hàn kín hai đầu, trong đó 02 đoạn ống hút có kích thước 3cm x 1cm và 07 đoạn ống hút có kích thước 2,5cm x 0,7cm; bên trong các đoạn ống hút đều chứa tinh thể dạng rắn (nghi là ma túy); 01(một) ĐTDĐ hiệu Samsung A11 màu đen, màn hình cảm ứng, sim số 0362680521 và số 0348423116; Số tiền 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng). Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi H2 chở T từ Phòng khám 24/24 về đến nhà T, thì bị lực lượng công an kiểm tra, thu giữ toàn bộ tang vật (BL 145 - 147), gồm:
- Thu giữ của T: 01 (một) túi xách màu đen, mặt ngoài ghi chữ Jinshimao trong túi có 01 (một) gói nylon hàn kín, một đầu khóa miết, kích thước 13,5cm x 7,8cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn; 01(một) hộp giấy màu trắng, có ghi dòng chữ Lighter C, kích thước 12cm x 8cm x 3cm, bên trong có 01 cân tiểu ly màu xám; 01(một) ĐTDĐ Samsung A12 màu đen, màn hình cảm ứng, mặt màn hình bị bể nứt, có sim số 0377.971.044 và 0335.417.407; 01(một) ĐTDĐ OPPO A77S màu xanh dương, màn hình cảm ứng, có sim số 0968.780.230
- Thu giữ của H2: 01(một)gói nylon hàn kín, một đầu khóa miết, kích thước 5cm x 5cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn; 01(một) ví da màu đỏ, bên trong có 08 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng. Tổng cộng: 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng); 01(một) ĐTDĐ N2 màu đen, model TA – 1174, có sim số 0338.822.315 và 0764.469.910; 01(một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen, biển số kiểm soát 93M1 – 273.79, số khung: RLCUG0610JY701436; số máy: G3D4E – 729772.
Đến 20 giờ 00 phút ngày 20/3/2023, CQCSĐT công an thị xã C, tỉnh Bình Phước tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T và K, thu giữ toàn bộ tang vật (BL 152 - 153), gồm:
- Thu giữ của K: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh sim số 0345.201.195; Số tiền 900.000 đồng.
- Thu trên bàn gỗ trong phòng bếp: 01(một) ống hút màu đen dài 11cm, một đầu vát nhọn; 01(một) ống hút màu trắng, sọc dài 4,5cm, một đầu vát nhọn; 01(một) tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng (Mười ngàn đồng) được quấn tròn cố định bằng một đoạn ống hút màu trắng sọc đỏ dài 13cm; 01(một) cân tiểu ly màu đỏ trắng có ghi chữ Manlloro được quấn băng keo màu đen bên ngoài (cân không còn hoạt động); 01(một) cân tiểu ly màu đỏ trắng có ghi chữ Manlloro; 01(một) kéo cắt bằng kim loại dài 16cm; 01(một) ống thủy tinh dài 10cm, một dầu dạng phễu bên trong có bám dính chất màu trắng; 01(một) quẹt ga mini màu vàng, bên ngoài có ghi chữ “Vạn Xuân”; 09(chín) ống hút (loại có một dầu co giãn) gồm 05 ống màu cam, 01 ống màu tím, 01 ống màu đỏ, 01 ống màu xanh lá cây và 36(Ba mươi sáu) ống hút có nhiều màu khác nhau, bên trong không có gì.
- Thu giữ trên nền phòng bếp: 01(một) hộp màu đen trắng trên mặt hộp ghi chữ “SNAKE ASIAN” bên trong có các đồ vật gồm: 43 (Bốn mươi ba) túi nylon loại khóa miết kích thước (8,7x5,2)cm, bên trong không có gì; 13(Mười ba) ống thủy tinh dài 20cm; 01(một) kéo cắt bằng kim loại dài 9,5cm đã qua sử dụng; 05(năm) ống hút loại một dầu co giãn gồm 03 (ba) ống màu xanh dương; 01 (một) ống màu tím; 01 (một) một ống màu đỏ; 01 (một) lọ thủy tinh.
Tại Kết luận giám định số: 362, 363 /KL-KTHS ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B xác định: chất màu trắng có trong các gói nylon được niêm phong gửi giám định ký hiệu M, M1, M2 đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lƣợng là 37,6404 gam, trong đó: M (của Đinh Tiến V2) = 1,2325 gam, M1 (của Trần Kim T) = 35,2462 gam, M2 (Trần Thị Thúy H7) = 1,1617 gam (BL 170; 174). Số ma túy và mẫu vật còn lại sau giám định được Phòng KTHS Công an tỉnh B hoàn lại là 36,2212 gam ma túy loại Methamphetamine đựng trong ba bì thư được niêm phong và đóng dấu giáp lai có ký hiệu vụ số 362M, 363M1 và 363M2
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKS-P1 ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước và tại phiên toà truy tố các bị cáo Trần Kim T, Đào Duyên K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 BLHS; các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H2, Đinh Tiến V2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước giữ nguyên bản Cáo trạng số 36/CT-VKS-P1 ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 16 đến 17 năm tù. Tuyên bố bị cáo Đào Duyên K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo K 15 đến 16 năm tù. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H2 03 đến 04 năm tù. Tuyên bố bị cáo Đinh Tiến V2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo V2 02 đến 03 năm tù. Về vật chứng và các vấn đề khác đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Quan điểm của Luật sư bào chữa cho các bị cáoTrần Kim T, Đào Duyên K:
Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã truy tố về tội danh, điều khoản và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên về phần hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có trình độ học vấn thấp bị cáo T học lớp 8/12, bị cáo K học lớp 9/12 dẫn đến hiểu biết pháp luật bị hạn chế; bị cáo không ý thức được về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; tích cực với cơ quan điều tra, giúp cơ quan điều tra sớm giải quyết, kết thúc vụ án. Bị cáo T là phụ nữ có thai trong thời gian thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hồi đồng xét xử áp dụng điểm n, s khoản 1 điều 51, điểm g, h khoản 1 điều 52, khoản 1 điều 54, điểm b, khoản 3, điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Trần Kim T từ 15 năm đến 16 năm tù. Áp dụng điểm s khoản 1 điều 51, điểm g, h khoản 1 điều 52, điều 55, điều 56, điểm b, khoản 3, điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Đào Duyên K từ 15 năm đến 17 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo trong hồ sơ vụ án và lời khai người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm, biên bản tiếp nhận người phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định của Phòng K4 Công an tỉnh B và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ được tranh tụng công khai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Do cần tiền tiêu xài, Đào Duyên K cùng Trần Kim T bàn bạc thống mua ma túy về bán kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 đến ngày 10/3/2023 bị cáo K đã nhiều lần mua ma túy loại Methamphetamine, sau đó chia ra cùng T bán ma tuý cho nhiều người, số ma túy này K và T đã bán hết nên cơ quan điều tra không thu hồi được. Ngày 17/3/2023, bị cáo T liên hệ với người thanh niên có nick zalo “Khánh Trần” mua 8.000.000 đồng ma túy loại Methamphetamin, sau đó đưa cho bị cáo K chia nhỏ ra để bán kiếm lời. Ngày 18 và 19/3/2023, T bán 500.000 đồng ma túy cho Nguyễn Thế T3 (Nhí) để sử dụng. Trong các ngày 18,19,20/2023 bị cáo T, K, H2, V2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà do T thuê ở tổ G, khu phố T, thị xã C, tỉnh Bình Phước, sau khi sử dụng ma túy xong, V2 hỏi T “còn không chia cho anh một ít”. T sử dụng ống hút được cắt nhọn một đầu, chia ma túy cất dấu trước đó vào túi nylon nhỏ đưa cho V2, V2 đã chia nhỏ vào 09 đoạn ống hút và cất vào túi quần. Ngày 20/3/2023, Nguyễn Thị Thúy H2 đã có hành vi cất dấu1,1617 gam ma túy loại Methamphetamine, Đinh Tiến V2 đã có hành vi cất dấu 1,2325 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Ngày 20/3/2023, T, K, H2 và V2 bị Cơ quan điều tra bắt quả tang, thu giữ của T 35,2462 gam, ma túy loại Methamphetamine; thu giữ của H2 1,1617 gam Methamphetamine ma túy loại Methamphetamine; thu giữ của V2 1,2325 gam ma túy loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Kim T và Đào Duyên K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của Nguyễn Thị Thúy H2, Đinh Tiến V2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249. Do đó, Cáo trạng số 37/CT-VKS-P1 ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi mà bị cáo thực hiện đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, thu lợi bất chính nhanh chóng, nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm minh để trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo T và K bán ma tuý cho nhiều người từ 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T từng bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 07 năm 6 tháng tù giam về tội “mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 59/2017/HSST ngày 24/7/2017, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 06/10/2021, nhưng chưa được xóa án tích. Trong lần phạm tội này bị cáo T lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm nguy hiểm” quy đinh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo K, từ ngày 24/11/2017 đến 13/12/2022 đã có bốn tiền án về tội trộm cắp tài sản, trong lần phạm tội này bị cáo đều chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm nguy hiểm” quy đinh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H2 năm 2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 03 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 53/2017/HSST, bị cáo đã chấp hành án xong nhưng chưa được xóa án tích. Trong lần phạm tội này bị cáo H2 phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy đinh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 được áp dụng đối với các bị cáo. Bị cáo T khi phạm tội đang mang thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội là phụ nữ có thai” quy định tại điểm n khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với các đối tượng:
Đối với người tên C1: là người bán ma túy cho K quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
- Đối với người bán ma túy cho T có tên đăng nhập Z là “Khánh Trần” quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
- Đối với Nguyễn Thế T3, Nguyễn Công L2, Nguyễn Kim L3, Gịp Minh Tuấn H4, Trần Thanh V1, Hoàng Duy K2, Nguyễn Anh T4, Hồ Thị Thúy L4, Trương Văn S là những người mua ma túy của Trần Kim T và Đào Duyên K về mục đích sử dụng, số ma túy mua về các đối tượng đã sử dụng hết. Ngày 14/8/2023 Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Công an thị xã C xử lý các đối tượng trên theo quy định do đó tại bản án này Hội đồng xet xử không xem xét xử lý.
Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen, biển số: 93M1 – 273.79; số khung: RLCUG0610JY701436; số máy: G3D4E – 729772; 01(một) ĐTDĐ hiệu Samsung A11 màu đen, màn hình cảm ứng, sim số 0362680521 và số 0348423116: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Đinh Tiến V2, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cần trả lại chủ sở hữu;
- Đối với 01(một) ĐTDĐ Nokia màu đen, model TA – 1174, có sim số 0338.822.315 và 0764.469.910: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị Thúy H2 và không liên quan đến hành vi phạm tội. Cần trả lại cho chủ sở hữu.
- Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định là: 36,2212 gam ma túy loại Methamphetamine, được đựng trong 03 (ba) phong bì (kí hiệu 362M, 363M1, 363M2) dán kín, niêm phong có chữ ký của Vũ Thị T5, Điều tra viên Hồ Văn H8, Bị can Đinh Tiến V2, Nguyễn Thị Thúy H2, Trần Kim T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh B , gồm: 01 (một) phong bì (ký hiệu 362M) bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 1,2325 gam (Hoàn lại sau giám định 1,1431 gam); 01 (một) phong bì (ký hiệu 363M1) bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 35,2462 gam (Hoàn lại sau giám định 34,0689 gam); 01 (một) phong bì (ký hiệu 363M2) bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 1,1617 gam (H8 lại sau giám định 1,0092 gam). Đây là vật phạm tội và cấm tàng trữ, mua bán cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu tiêu hủy những vật được bị can dùng để phạm tội và không còn giá trị sử dụng gồm:
- 01(một) bóp da màu đen, bên ngoài ghi dòng chữ Classic modern;
- 01(một) hộp giấy màu trắng, có ghi dòng chữ Lighter C, kích thước 12cm x 8cm x 3cm, bên trong có 01(một) cân tiểu ly màu xám;
- 01(một) túi xách màu đen, mặt ngoài ghi chữ Jinshimao;
- 01(một) ống hút màu đen dài 11cm, một đầu vát nhọn;
- 01(một) ống hút màu trắng, sọc dài 4,5cm, một đầu vát nhọn;
- 01(một) cân tiểu ly màu đỏ trắng có ghi chữ Manlloro được quấn băng keo màu đen bên ngoài (cân không còn hoạt động);
- 01(một) cân tiểu ly màu đỏ trắng có ghi chữ Manlloro;
- 01(một) kéo cắt bằng khim loại dài 16cm;
- 01(một) ống thủy tinh dài 10cm, một đầu dạng phễu bên trong có bám dính chất màu trắng;
- 01(một) quẹt gas mini màu vàng, bên ngoài có ghi chữ “Vạn Xuân”;
- 09(chín) ống hút (loại có một dầu co giãn) gồm 05 ống màu cam, 01 ống màu tím, 01 ống màu đỏ, 01 ống màu xanh lá cây;
- 36 (ba sáu) ống hút có nhiều màu khác nhau.
- 43(Bốn mươi ba) gói nylon loại khóa miết kích thước (8,7x5,2)cm;
- 13(Mười ba) ống thủy tinh dài 20cm;
- 01(một) kéo cắt bằng kim loại dài 9,5cm đã qua sử dụng;
- 05(năm) ống hút loại một dầu co giãn gồm 03 (ba) ồng màu xanh dương; 01 (một) ống màu tím; 01 (một) một ống màu đỏ; 01 (một) lọ thủy tinh.
- 01 (một) quẹt gas mini màu xanh; 01 (một) quẹt gas mini màu bạc; 01
(một) ống thủy tinh dài 9cm; 01 (một) lọ thủy tinh; 01 ví da màu đỏ.
- Đối với 01(một) ĐTDĐ Samsung A12 màu đen, màn hình cảm ứng, mặt màn hình bị bể nứt, có sim số 0377.971.044 và 0335.417.407 và 01(một) ĐTDĐ OPPO A77S màu xanh dương, màn hình cảm ứng, có sim số 0968.780.230 là điện thoại của Trần Kim T sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh sim số 0345.201.195 là điện thoại của Đào Duyên K sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với: Số tiền 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng) thu giữ của Đinh Tiến V2; 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Thúy H2; 2.500.000đ (hai triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Trần Kim T; 900.000đ (chín trăm ngàn đồng) thu giữ của Đào Duyên K: Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Kim T và Đào Duyên K phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Kim T, Đào Duyên K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H2, Đinh Tiến V2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h Điều 52, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Kim T 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đào Duyên K 16 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 03 năm 2023.
Căn cứ vào Điều 56 Bộ luật hình sự:
Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tại Bản án hình sự phúc thẩm số 111/2022/HSST ngày 13/12/2022 về tội “Trộm cắp tài sản” với 16 năm tù của Bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 17 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 03 năm 2023, được khấu trừ thời hạn tạm giữ ngày 04/5/2022.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy H2 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 03 năm 2023.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đinh Thế V 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 03 năm 2023.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy:
01(một) phong bì được dán giấy niêm phong của Phòng K4 Công an tỉnh B ký hiệu vụ số: 363M1 ngày 22/3/2023, bên trong có chứa ma túy hoàn lại sau giám định, trên giấy niêm phong có chữ ký của Giám định viên Vũ Thị T5, Điều tra viên Hồ Văn H8, Bị can Trần Kim T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh B;
01(một) phong bì được dán giấy niêm phong của Phòng K4 Công an tỉnh B ký hiệu vụ số: 363M2 ngày 22/3/2023, bên trong có chứa ma túy hoàn lại sau giám định, trên giấy niêm phong có chữ ký của Giám định viên Vũ Thị T5, Điều tra viên Hồ Văn H8, Bị can Trần Kim T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh B;
01(một) phong bì được dán giấy niêm phong của Phòng K4 Công an tỉnh B ký hiệu vụ số: 362M2 ngày 22/3/2023, bên trong có chứa ma túy hoàn lại sau giám định, trên giấy niêm phong có chữ ký của Giám định viên Vũ Thị T5, Điều tra viên Hồ Văn H8, Bị can Trần Kim T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh B;
01(một) bóp da màu đen, bên ngoài ghi dòng chữ Classic modern;
01(một) hộp giấy màu trắng, có ghi dòng chữ Lighter C, kích thước 12cm x 8cm x 3cm, bên trong có 01(một) cân tiểu ly màu xám;
01(một) túi xách màu đen, mặt ngoài ghi chữ Jinshimao;
01(một) ống hút màu đen dài 11cm, một đầu vát nhọn;
01(một) ống hút màu trắng, sọc dài 4,5cm, một đầu vát nhọn;
01(một) cân tiểu ly màu đỏ trắng có ghi chữ Manlloro được quấn băng keo màu đen bên ngoài (cân không còn hoạt động);
01(một) cân tiểu ly màu đỏ trắng có ghi chữ Manlloro;
01(một) kéo cắt bằng khim loại dài 16cm;
01(một) ống thủy tinh dài 10cm, một dầu dạng phễu bên trong có bám dính chất màu trắng;
01(một) quẹt ga mini màu vàng, bên ngoài có ghi chữ “Vạn Xuân”;
09(chín) ống hút (loại có một dầu co giãn) gồm 05 ống màu cam, 01 ống màu tím, 01 ống màu đỏ, 01 ống màu xanh lá cây;
36 (ba sáu) ống hút có nhiều màu khác nhau.
43(Bốn mươi ba) gói nylon loại khóa miết kích thước (8,7x5,2)cm;
13(Mười ba) ống thủy tinh dài 20cm;
01(một) kéo cắt bằng kim loại dài 9,5cm đã qua sử dụng;
05(năm) ống hút loại một dầu co giãn gồm 03 (ba) ồng màu xanh dương; 01 (một) ống màu tím; 01 (một) một ống màu đỏ; 01 (một) lọ thủy tinh;
01 (một) tờ tiền Polime mệnh giá 10.000đ được quấn tròn cố định bằng một đoạn ống hút màu trắng sọc đỏ dài 13cm;
01 (một) quẹt gas mini màu xanh; 01 (một) quẹt gas mini màu bạc; 01 (một) ống thủy tinh dài 9cm; 01 (một) lọ thủy tinh; 01 ví da màu đỏ
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh sim số 0345.201.195;
01(một) ĐTDĐ Samsung A12 màu đen, màn hình cảm ứng, mặt màn hình bị bể nứt, có sim số 0377.971.044 và 0335.417.407;
01(một) ĐTDĐ OPPO A77S màu xanh dương, màn hình cảm ứng, có sim số 0968.780.230;
- Tạm giữ để bảo đảm thi hành án:
Số tiền 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm ngàn đồng) đã gửi vào tài khoản Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tại Kho bạc Nhà nước tỉnh B (có biên bản và phiếu nhập kèm theo).
- Trả lại cho Đinh Tiến V2: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen, biển số: 93M1 – 273.79; số khung: RLCUG0610JY701436; số máy: G3D4E – 729772; 01(một) ĐTDĐ hiệu Samsung A11 màu đen, màn hình cảm ứng, sim số 0362680521 và số 0348423116.
- Trả lại cho Nguyễn Thị Thúy H2: 01(một) ĐTDĐ Nokia màu đen, model TA – 1174, có sim số 0338.822.315 và 0764.469.910.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trần Kim T, Đào Duyên K3, Nguyễn Thị Thúy H2, Đinh Tiến V2 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Toà án ND cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước; - CQĐT, PV06 Công an tỉnh Bình Phước - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Cục Thi hành án DS tỉnh Bình Phước; - Người tham gia tố tụng; - Cổng thông tin điện tử TANDTC; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Văn Bình |