vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Tuyên án 22/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sầm Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Sầm Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2023, ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Heroine, 03 mảnh giấy, 02 mảnh nilon và bì niêm phong cũ đự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sầm Văn L K1D249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sầm Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN VĂN BÀN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HS-ST
Ngày 22/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Duy Bình.

2. Ông Vàng A Xà.

Thư ký phiên toà: Ông Nông Ngọc Giang - Thư ký toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 25/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Sầm Văn L - Sinh ngày 01/10/1961, tại huyện V, tỉnh L.

Nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh L.

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Lớp 3/10.

Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Sầm Văn C, sinh năm 1935; con bà: Hoàng Thị S (đã chết).

Vợ: Lương Thị L, sinh năm 1967; bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 2005. Hiện đều trú tại: Xã V, huyện V, tỉnh L.

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 tiền án, Bản án số 26/2019/HSST ngày 04/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Sầm Văn L 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù 05/10/2021.

* Nhân thân: Ngày 20/4/1986 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”. Ngày 18/3/1993 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/12/1993 Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, tổng hợp 02 bản án Sầm Văn L phải chấp hành 09 năm tù giam. Ngày 09/3/1994 Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, tổng hợp với bản án năm 1993 Sầm Văn L phải chấp hành 14 năm tù giam. Năm 2012 Tòa án Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 04 năm 03 tháng tù và phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 30/2012/HSST ngày 16/7/2012. Năm 2016 Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 30/2016/HSST ngày 21/9/2016.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2023 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Đức T, Sinh năm 1971 - Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 18/6/2023, tổ công tác Công an huyện Văn Bàn và công an xã V đang tuần tra, kiểm soát tại tuyến đường tỉnh lộ 151 thuộc địa phận thôn L, xã V thì phát hiện Sầm Văn L đang đứng ở ven đường có biểu hiện vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu Sầm Văn L nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tự giác khai báo. Sầm Văn L khai nhận đang cất giấu ma túy ở trong người và tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc ra 01 gói giấy trắng có dòng kẻ, có chữ, bên trong có 02 gói giấy, bên trong mỗi gói có 01 lớp nilon màu xanh, đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục giao nộp cho tổ công tác và khai là ma túy của L tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Tiến hành khám xét chỗ ở của Sầm Văn L tại thôn L, xã V không phát hiện, thu giữ gì.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Sầm Văn L khai: Cách ngày bị bắt khoảng 01 tuần tại khu vực cầu N, xã M, huyện V, Sầm Văn L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 10 gói ma túy đều được gói bằng giấy trắng, giá 800.000đ đã sử dụng hết 08 gói, còn 02 gói L cất giấu trong túi quần, mục đích để sử dụng, đến ngày 18/6/2023 thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Kết luận giám định số 226/KL-GĐMT ngày 21/6/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,22 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Sầm Văn L gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

* Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-VB ngày 24/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, quyết định truy tố bị cáo Sầm Văn L ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: + Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Sầm Văn L từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Về hình phạt bổ sung: Không.

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Heroine, 03 mảnh giấy, 02 mảnh nilon và bì niêm phong cũ do không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Là người sử dụng chất ma túy nên cách ngày bị bắt (ngày 18/6/2023) khoảng 01 tuần tại khu vực cầu N, xã M, huyện V, bị cáo L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 10 gói Heroine đều được gói bằng giấy trắng với giá 800.000đ. Mua được ma túy các ngày sau đó bị cáo đã sử dụng hết 08 gói, còn 02 gói Heroine có khối lượng 0,22 gam bị cáo cất giấu trong túi áo, mục đích để sử dụng. Đến ngày 18/6/2023 thì bị phát hiện và bắt quả tang, cơ quan điều tra thu giữ toàn bộ số Heroine của bị cáo.

Như vậy lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Sầm Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Hội đồng đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo: Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo hiểu rõ ma túy là độc dược nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con người nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà mua ma túy, tàng trữ sử dụng cho bản thân. Ngoài 01 tiền án ra, bị cáo có nhân thân xấu:

Ngày 20/4/1986 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”. Ngày 18/3/1993 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/12/1993 Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 09/3/1994 Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Năm 2012 Tòa án Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 04 năm 03 tháng tù và phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 30/2012/HSST ngày 16/7/2012. Năm 2016 Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 30/2016/ HSST ngày 21/9/2016. Các bản án trên bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các nghĩa vụ khác của bản án đã được xóa án tích. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục sử dụng và tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Vì vậy cần phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Sầm Văn L tại bản án số 26/2019/HSST ngày 04/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 05/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích như vậy lần phạm tội này là tái phạm. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo; sống bằng nghề nghiệp trồng trọt, không có tài sản riêng gì, gia đình thuộc diện hộ nghèo của xã. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 0,22 gam Heroine của Sầm Văn L, cơ quan điều tra gửi giám định, cơ quan giám định lưu mẫu 0,07g Heroine. Còn lại 0,15g Heroine; 03 mảnh giấy; 02 mảnh nilon và bì niêm phong cũ cần tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo Sầm Văn L phải chịu án theo quy định pháp luật.

Về các tình tiết khác của vụ án: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Sầm Văn L quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Sầm Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Sầm Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2023, ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Heroine, 03 mảnh giấy, 02 mảnh nilon và bì niêm phong cũ đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 28/8/2023.)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Sầm Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ