- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - Lò VĂn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 24/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Huân và ông Quàng Văn Tại.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/5/1965; tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 3/12; con ông Lò Văn É, đã chết; con bà Lò Thị É, đã chết; vợ bị cáo là Lò Thị T, đã chết và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa bị Tòa án các cấp xét xử, bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023 cho đến 14/4/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuần Giáo; đến ngày 14/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người bào chữa cho bị cáo:
1. Bà Lường Thị T; Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên; có mặt.
2. Ông Đỗ Xuân T; Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16/02/2023, bị cáo một mình đi bộ từ nhà ở bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên xuống đường quốc lộ thuộc bản N, xã Q để xem người trong bản đón xe khách đi làm thuê. Khi mọi người lên xe thì bị cáo đi bộ quay về nhà, trên đường đi về nhà bị cáo nhặt được 01 vỏ bao thuốc lá du lịch; bị cáo mở ra xem thì thấy bên trong có 03 điếu thuốc lá và 01 gói nilon màu hồng. Bị cáo đã mở gói nilon màu hồng ra xem thì thấy đó là Heroine nên gói lại và tiếp tục đi về. Khi về đến nhà bị cáo mở gói nilon màu hồng ra cấu lấy môt ít Heroine rồi mang ra phòng khách để sử dụng bằng hình thức hút. Số Heroine còn lại, bị cáo gói lại như cũ và cất giấu trên mặt bàn bếp ăn. Khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày khi bị cáo vừa sử dụng Heroine xong thì bị tổ công tác Công an xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên kiểm tra phát hiện bắt quả tang bị cáo vừa sử dụng ma túy xong, thu giữ của bị cáo 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng và 01 bật lửa ga màu đỏ, phát hiện thu giữ trên mặt bàn bếp ăn nhà bị cáo 01 gói nilon màu hồng bên trong có cục, bột màu trắng nghi Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa Lò Văn T cùng vật chứng về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 16/02/2023, có sự chứng kiến của bị cáo đã xác định như sau: 01 mảnh nilon màu hồng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy có khối lượng là 0,41 gam, lấy toàn bộ 0,41 gam làm mẫu gửi giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 60/QĐ-ĐCSHS-KTMT, ngày 17/02/2023. Tại bản Kết luận giám định số: 355/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục, dạng bột thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất Ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,35 gam.
Tại Cáo trạng số: 51/CT-VKSTG ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng hoàn lại của vụ Lò Văn T, có khối lượng 0,35 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc có vết cháy xám đen, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng để tiêu hủy. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Những người bào chữa cho bị cáo đề nghị: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo về tội danh và đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét về hoàn cảnh gia đình, nhân thân của bị cáo để đưa ra mức án thấp nhất có thể của khung hình phạt cho bị cáo. Đề nghị không phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02), Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL48), Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL49), Kết luận giám định (BL52); Biên bản lấy lời khai (BL75-78); Biên bản hỏi cung bị can (BL79-85) và các chứng cứ khác; do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/02/2023, bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu Heroine. Nguồn gốc Heroine bị cáo nhặt được, sau khi nhặt được Heroine thì bị cáo đã cấu ra một ít để sử dụng bằng hình thức hút; số Heroine còn lại đã bị thu giữ. Hành vi, mục đích và khối lượng 0,41 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy; hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Vì vậy, cần đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo; như vậy mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tuyên mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy về đề nghị mức hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo; nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đề nghị của những người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị tuyên mức hình phạt đối với bị cáo mức thấp nhất có thể của khung hình phạt, miễn phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi, tình tiết giảm nhẹ, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau: Đối với vật chứng hoàn lại của vụ Lò Văn T, có khối lượng 0,35 gam Heroine là chất Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc có vết cháy xám đen, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng do không còn giá trị sử dụng vì vậy tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo theo quy định của chính phủ và bị cáo có đơn xin miễn án phí vì vậy bị cáo đủ điều kiện được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người đàn ông không rõ lai lịch bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng khi mua bị cáo không hỏi tên tuổi địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác minh làm rõ, do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù; trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là 58 (Năm mươi tám) ngày; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu 01 phong bì niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước phong bì có ghi vật chứng còn lại vụ Lò Văn T, có khối lượng 0,35 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc có vết cháy xám đen, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng để tiêu hủy (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn Thọng được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 24/4/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng HC, Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Trung tâm TGPLNN tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HSNV, Công an huyện Tuần Giáo; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Bị cáo; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Quàng Văn Tại Nguyễn Quốc Huân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Nga |