- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn G phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 16-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nông Thế Hạp.
+ Bà Ngôn Thị Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Noọng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 45/2023/TLST-HS ngày 24/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Hoàng Văn G; tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày x tháng x năm 198x tại xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm P, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Hoàng Văn C và bà Nông Thị Ch (đều đã chết); Vợ: Nông Thị V, sinh năm 198x; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 200x, con nhỏ sinh năm 201x; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ ngày 03/01/2023 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn K, sinh năm 198x. Nơi cư trú: Xóm P, xã Đ, huyện T, Cao Bằng. Có mặt.
Người làm chứng:
- Nông Văn T, sinh năm 198x. Nơi cư trú: Xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
- Lục Văn H, sinh năm 197x. Nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
- La Văn P, sinh năm 199x. Nơi cư trú: Xóm L, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Tất cả những người làm chứng vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 35 phút ngày 03/01/2023, tổ công tác Công an xã Đức Hồng làm nhiệm vụ tại khu vực đỉnh dốc Keng Mạ thuộc xóm Pò Có, xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng phát hiện Hoàng Văn G đang điều khiển xe mô tô theo hướng đi vào xóm Pò Có, xã Đức Hồng có nhiều biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành dừng xe để kiểm tra phát hiện trong bàn tay trái G đang cầm 01 gói giấy trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất bột màu trắng. Trong túi áo bên trái G đang mặc có 01 gói giấy gói bằng vỏ bao thuốc lá DU LỊCH bên trong chứa chất bột màu trắng. Hoàng Văn G khai 02 gói trên là ma tuý (Heroine) của G. Mục đích mua về để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số vật chứng trên theo đúng quy định. Ngoài ra, còn tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, đã qua sử dụng và số tiền 50.000 đồng.
Cùng ngày 03/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn G có khối lượng 0,18g (không phẩy mười tám gam). Tại Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 12/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.
Ngày 04/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn G. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn G khai, khoảng 09 giờ ngày 03/01/2023, G đi bộ sang nhà Hoàng Văn K, trú cùng xóm để mượn xe mô tô, sau đó điều khiển xe đến xóm Tân Lập, xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh để mua ma túy với một người đàn ông tên Q. G gọi điện thoại trước cho Q hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng và được Q đồng ý. Gần đến nhà Q, G gọi điện thoại một lần nữa. Q nói chờ mấy phút. Khoảng 05 phút sau, Q đi bộ ra, nhận từ G số tiền 300.000 đồng và đưa cho G 01 gói ma túy. Mua được ma túy, G quay về, đến đoạn đường vắng, dừng xe lại chia gói ma túy vừa mua được thành 02 gói nhỏ. Sau đó, trên đường về nhà thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. G có hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 12/2022 đến khi bị bắt. Thời gian bán ma túy không cố định trong ngày. Địa điểm ma túy ở khu vực đường gần nhà bị cáo. Người mua ma túy có người gọi điện trước để hỏi mua hoặc đến trực tiếp hỏi mua ma túy với bị cáo. Bị cáo đã bán ma tuý cho những người sau:
Bán ma túy cho Nông Văn T, xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng 02 lần, mỗi lần bán 01 gói với số tiền 100.000đ, đều vào khoảng cuối tháng 12/2022; Lục Văn H, xóm L, xã H, huyện T, tỉnh Cao Bằng 01 lần với số tiền 100.000 đồng, vào khoảng 13 giờ ngày 01/01/2023; La Văn P, xóm L, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng 01 lần với số tiền 200.000 đồng vào trưa ngày 24/12/2022. Ngoài ra, bị cáo còn bán ma túy cho một số người khác nhưng không biết tên, địa chỉ.
Về số tài sản tạm giữ xác định được: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung bị cáo dùng để liên lạc hằng ngày và trao đổi mua bán ma túy. Các mảnh giấy vỏ bao thuốc lá, vở ô ly là công cụ phương tiện để gói, đựng ma túy. Số tiền 50.000đ là tiền bị cáo bán ma túy mà có. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ chủ sở hữu là Hoàng Văn K, khi bị cáo mang xe đi mua ma túy ông K không biết.
Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKSTK ngày 22/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Hoàng Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai: Bản thân sử dụng ma túy nên ngoài việc mua ma túy về sử dụng thì bị cáo còn bán từ đầu tháng 12 năm 2022 để kiếm lời. Trước khi bị bắt, bị cáo đã bán ma túy cho những người sau: Nông Văn T, Lục Văn H, La Văn P với thời gian, số lần, số tiền, hình thức giao dịch như Cáo trạng đã truy tố. Nguồn gốc ma túy thu giữ lúc bắt là do bị cáo mua với Đinh Ích Q, trú tại xóm T, xã P, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Việc mua bán chỉ có bị cáo với Q biết, ngoài ra không có tài liệu chứng minh.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn K trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ - đen mà Công an tạm giữ đối với bị cáo ngày 03/01/2023 là xe của ông. Khoảng 09 giờ ngày 03/01/2023, ông đang ở nhà thì bị cáo G đến hỏi mượn xe, do là họ hàng nên tôi đã cho mượn, tôi không biết bị cáo mượn xe đi đâu và làm gì. Mong Tòa xem xét trả lại chiếc xe cho tôi, ngoài ra tôi không có ý kiến gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn G từ 07 - 08 năm tù. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ và các mảnh giấy vỏ bao thuốc lá, mảnh giấy vở ô ly; Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung tạm giữ đối với bị cáo; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 50.000đ; Truy thu bị cáo số tiền 450.000đ để nộp vào ngân sách Nhà nước; Trả lại cho anh Hoàng Văn K 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen; Buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần, số tiền mua bán ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Hồi 10 giờ 35 phút ngày 03/01/2023, tại khu vực đỉnh dốc Keng Mạ thuộc xóm Pò Có, xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Hoàng Văn G đang tàng trữ trái phép 0,18g (không phẩy mười tám gam) Heroine. Mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Trước khi bị bắt, bị cáo đã bán ma túy 04 lần cho 03 người thu được 500.000đ. Cụ thể: Nông Văn T 02 lần, mỗi lần bán 01 gói với số tiền 100.000đ, đều vào khoảng cuối tháng 12/2022; Lục Văn H 01 lần với số tiền 100.000 đồng, vào khoảng 13 giờ ngày 01/01/2023; La Văn P 01 lần với số tiền 200.000 đồng vào trưa ngày 24/12/2022.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác nhưng vì lợi nhuận và nghiện nên bất chấp thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã bán ma túy 04 lần cho 03 người, mỗi lần đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét khi lượng hình.
Về nhân thân: Bị cáo biết việc sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên là người có nhân thân xấu. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống một thời gian để răn đe bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa chung. Xét thấy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đưa ra là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về vật chứng: Số Heroine thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước. Các mảnh giấy vỏ bao thuốc lá, vở ô ly là công cụ phương tiện phạm tội và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 50.000đ là tiền bị cáo bán ma túy mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho chủ sở hữu Hoàng Văn K là có căn cứ.
. Về số tiền thu lợi bất chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ được bị cáo bán ma túy 04 lần cho 03 người thu về số tiền 500.000đ (đã tạm giữ 50.000đ). Do vậy, cần truy thu đối với bị cáo số tiền 450.000đ để sung quỹ Nhà nước.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
. Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Bị cáo khai mua với Đinh Ích Q, trú tại xóm T, xã P, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Q nhưng không phát hiện ma túy hay tài liệu liên quan đến vụ án. Tiến hành đối chất Q cũng không thừa nhận được bán ma túy cho G. Q thừa nhận giữa hai người là bạn bè thi thoảng gọi điện hỏi thăm sức khỏe, ngày 03/01/2023 G có gọi điện thoại cho Q nhưng chỉ là hỏi Q biết chỗ nào bán ma túy không, Q trả lời không biết rồi tắt máy. Ngoài lời khai của G không có tài liệu khác chứng minh Q bán ma túy cho Giang. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng không đề nghị xử lý Q là đúng theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn G 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 03/01/2023.
3. Truy thu số tiền 450.000đ đối với bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng (01 gói giấy màu trắng; 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá du lịch; 01 mảnh giấy vở ô ly màu trắng) vụ Hoàng Văn G- Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 03/01/2023.
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen tạm giữ của Hoàng Văn G ngày 03/01/2023.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ.
- Trả lại cho anh Hoàng Văn K 01 xe mô tô nhãn hiều Yamaha, loại xe Sirius màu sơn đỏ - đen, BKS: 11K1 - 058.80 (có chìa khóa kèm theo).
Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Hoàng Văn G phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| đã ký Nông Thế Hạp - Ngôn Thị Liêm | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nông Văn Tùng |