- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 09 tháng 8 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Hiếu
Ông Nguyễn Trung Tĩnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Xiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tri – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2023/TLST- HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Mạnh Đ; sinh ngày: 05/11/2003 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Sinh viên; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Mạnh Phú; con bà Nguyễn Thị Sáu; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt.
2. Nguyễn Trọng H; sinh ngày: 21/9/2003 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Sinh viên; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Trọng Hào; con bà Nguyễn Thị Hằng; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 10 phút ngày 01/3/2023 tại khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện Lâm Thao tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm: 2003, trú tại: Khu Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Trọng H, sinh năm: 2003, trú tại: Khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ đều là sinh viên trường Đại học H. Quá trình kiểm tra, Đ tự nguyện giao nộp 14 túi nilon đều có đặc điểm màu trắng, miệng túi có khuy bấm và viền màu đỏ, bên trong có chất dạng sợi thực vật màu vàng. Đ và H khai chất dạng sợi thực vật màu vàng là ma tuý thường gọi là “Tobaco” cả hai đang mang đi để bán. Tổ công tác lập biên bản sự việc, tạm giữ, niêm phong 14 túi nilon thu giữ của Đ. Ngoài ra, tạm giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, gắn sim thuê bao số 0368219886; tạm giữ của Nguyễn Trọng H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, gắn sim thuê bao số 0888726444 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu bạc – đen, biển kiểm soát: 19G1-442.26.
Kiểm tra tại nhà trọ thuộc khu 5 phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Đ và H tự giao nộp 26 túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm và viền màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng sợi thực vật màu vàng và 01 túi nilon màu trắng – bạc, miệng túi có khuy bấm, bên trong có chứa chất dạng sợi thảo mộc màu vàng.
Nguồn gốc toàn bộ số ma túy như đã nêu trên, Đ và H cùng nhau góp số tiền 2.150.000đ (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), mua trên mạng xã hội Facebook của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ với mục đích ai hỏi mua thì bán.
Kết quả điều tra, xác minh đã làm rõ diễn biến hành vi phạm tội của Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Trọng H như sau: Khoảng tháng 12 năm 2022, Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Trọng H cùng nhau lập tài khoản Facebook “Tobaco Việt Trì”, đăng nhập trên điện thoại của Đ và H với mục đích để bán chất ma túy thường được gọi là “Tobaco”. Ngày 27/02/2023, Đ và H mỗi người góp 1.075.000đ, sau đó, H lên mạng xã hội Facebook đặt mua 01 túi ma túy với giá 2.150.000đ của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Ngày 28/02/2023, Đ và H nhận được qua dịch vụ chuyển phát nhanh 01 túi nilon màu trắng bạc, miệng túi có khuy bấm, bên trong có các sợi thực vật màu vàng xác định là ma túy “Tobaco”. Đ và H cùng đi mua 42 túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm và viền màu đỏ, mang về phòng trọ của Đ, chia phần số ma túy mua được vào 42 túi nilon, số ma túy còn lại vẫn để trong túi nilon màu trắng bạc như trên.
Ngày 28/02/2023, Nguyễn Tiến D, sinh năm: 2002, trú tại: Khu 5, xã S, huyện L sử dụng tài khoản Facebook “N” liên hệ vào tài khoản Facebook “Tobaco Việt Trì” hỏi mua 02 túi ma túy với giá 200.000đ và hẹn giao dịch ở thị trấn L. Đ và H đồng ý, yêu cầu D chuyển số tiền 200.000đ vào tài khoản ngân hàng BIDV số 21710000822461 của Nguyễn Trọng H, D đã chuyển tiền cho H. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, H chở Đ bằng xe mô tô biển kiểm soát: 19G1-442.26 của H đến khu vực gần nhà nghỉ Q ở khu L, thị trấn L, gặp và giao cho D 02 túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm và viền màu đỏ, bên trong chứa các sợi thực vật màu vàng là ma túy “Tobaco”. D mang 02 túi ma túy mua được về nhà ở khu 5, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ sử dụng một mình hết. Sau khi bán ma túy cho D, H đưa cho Đ 100.000đ bằng tiền riêng của H, 200.000đ trong tài khoản H đã rút ra và tiêu sài cá nhân hết. Ngày 01/3/2023, Đ và H mang theo 14 túi ma túy “Tobaco” đến khu L, thị trấn L, tỉnh Phú Thọ với mục đích ai mua thì bán thì bị lực lượng công an phát hiện như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định chất ma túy đối với chất sợi thực vật màu vàng bên trong 41 túi nilon thu giữ của Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Trọng H. Tại Bản kết luận giám định số 1518/KL-KTHS ngày 14/3/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA, ADB-BUTINACA trong các sợi thực vật màu vàng gửi giám định; tổng khối lượng 104,759 gam. Chưa có mẫu chuẩn định lượng nên không xác định được khối lượng chất ma túy trong mẫu.
* ADB – BUTINACA có STT 92, danh mục IIC, thuộc danh mục các chất ma túy theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
* MDMB – 4en – PINACA có STT 241, danh mục IIC, thuộc danh mục các chất ma túy theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến D khai nhận hành vi mua ma túy thường gọi là “Tobaco” và đã sử dụng hết số ma túy mua được. Đối chất giữa D với Đ và H xác định các lời khai là phù hợp thể hiện rõ hành vi, diễn biến vụ việc.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Đ và H bằng hình thức giao dịch qua mạng xã hội và giao nhận ma túy bằng chuyển phát hàng, do Đ và H không biết người này, không nhớ được tài khoản Facebook và các thông tin giao dịch nên không có cơ sở xác minh.
Về tài sản: Qua xác minh, trước khi phạm tội bị cáo sống phụ thuộc gia đình, bị cáo không có tài sản chung, riêng gì có giá trị.
Cáo trạng số: 39/CT -VKSLT ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Đ;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng H;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Đ 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và bị cáo Nguyễn Trọng H.
- Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ:
01 bì giấy niêm phong số 1518/KL- KTHS của Viện khoa học Hình sự Bộ Công an, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định” và “Kính gửi Cơ quan CSĐT – CAH Lâm Thao, Phú Thọ”, mặt sau có hai loại chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 07 hình dấu tròn đỏ của Viện Khoa học hình sự Bộ công an là mẫu vật còn lại sau giám định là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành, 01 sim điện thoại số 0368219886 của Nguyễn Mạnh Đ; 01 sim điện thoại số 0888726444 của Nguyễn Trọng H.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng (Gold), số IMEI: 354741668733521, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng (Gold) số IMEI: 353110101784601, điện thoại đã cũ của Nguyễn Trọng H.
Trả lại cho anh Nguyễn Trọng Hải 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu bạc đen, biển số 19G1-442.26, xe cũ đã qua sử dụng.
Thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Mạnh Đ.
Thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Trọng H.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và bị cáo Nguyễn Trọng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trọng H và Nguyễn Mạnh Đ hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Thao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Ngày 28/02/2023, tại khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Trọng H đã thực hiện hành vi bán trái phép 02 túi ma túy có chứa chất ma túy ADB – BUTINACA và MDMB – 4en – PINACA cho Nguyễn Tiến D với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Ngoài ra, ngày 01/3/2023, Đ và H có hành vi cất giấu 14 túi ma tuý tại khu L, huyện L, tỉnh Phú Thọ và 27 túi ma túy tại khu 5 phường Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với tổng trọng lượng chất thảo mộc là 104,759g (không xác định được định lượng ma túy) với mục đích để bán. 02 túi ma túy mà Đ và H đã bán cho D và 41 gói ma túy cất giấu nhằm để bán có cùng một nguồn gốc do mua của một đối tượng không xác định qua mạng xã hội Facebook. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản niêm phong đồ vật; kết luận giám định; biên bản thu thập thông tin dữ liệu trên điện thoại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, có tính đồng phạm giản đơn, Đ và H đều là người thực hành trong đó vai trò của Đ là tích cực hơn trong việc mua ma túy, chia nhỏ, liên lạc với người mua và trực tiếp đem ma túy đi bán. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma túy của Nhà nước gây mất trật tự trị an trên địa bàn và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi các bị cáo đã là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải đưa các bị cáo ra xét xử và có hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo Đ và bị cáo H đều được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Đ ông ngoại của bị cáo Nguyễn Mạnh Đ là ông Nguyễn Đức Đ là người có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến hạng ba, bà ngoại của bị cáo là Trần Thị M được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất; ông nội của bị cáo là Nguyễn Văn N được tặng huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội cần xử phạt Nguyễn Mạnh Đ và bị cáo Nguyễn Trọng H mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Trọng H không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 bì giấy niêm phong số 1518/KL- KTHS của Viện khoa học Hình sự Bộ Công an, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định” và “Kính gửi Cơ quan CSĐT – CAH Lâm Thao, Phú Thọ”, mặt sau có hai loại chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 07 hình dấu tròn đỏ của Viện Khoa học hình sự Bộ công an là mẫu vật còn lại sau giám định là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành, 01 sim điện thoại số 0368219886, điện thoại cũ đã qua sử dụng, tạm giữ của Nguyễn Mạnh Đ; 01 sim điện thoại số 0888726444, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Trọng H mà các bị cáo đã dùng liên lạc mua ma túy không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu bạc đen, biển số 19G1-442.26, xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Nguyễn Trọng H. Đây là xe bị cáo đã sử dụng dùng làm phương tiện đi mua bán trái phép chất ma túy. Chiếc xe này bị cáo đã bán cho anh Nguyễn Trọng Hải trước đó. Khi bị cáo mượn xe của anh Hải đi bán ma túy, anh Hải không biết. Tại phiên tòa anh đề nghị được nhận lại chiếc xe nói trên nên cần trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Trọng Hải là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng (Gold), số IMEI: 354741668733521, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng (Gold) số IMEI: 353110101784601, điện thoại đã cũ của Nguyễn Trọng H. Đây là điện thoại Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Trọng H đã sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp;
Đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn Mạnh Đ bán ma túy cho Nguyễn Tiến D. Số tiền đó H và Đ chia nhau mỗi người 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng), hiện tại bị cáo Đ và bị cáo H đã sử dụng hết cần phải thu lại của bị cáo Nguyễn Trọng H 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng) và của bị cáo Nguyễn Mạnh Đ 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với người đã bán ma túy cho Đ và H bằng hình thức giao dịch qua mạng xã hội và giao nhận ma túy bằng chuyển phát hàng, do Đ và H không biết người này, không nhớ được tài khoản Facebook và các thông tin giao dịch nên không không có cơ sở xác minh, làm rõ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Đ;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng H;
Căn cứ vào điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Đ 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và bị cáo Nguyễn Trọng H.
[2] Về xử lý vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì giấy niêm phong số 1518/KL- KTHS của Viện khoa học Hình sự Bộ Công an, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định” và “Kính gửi Cơ quan CSĐT – CAH Lâm Thao, Phú Thọ”, mặt sau có hai loại chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 07 hình dấu tròn đỏ của Viện Khoa học hình sự Bộ công an là mẫu vật còn lại sau giám định là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành, 01 sim điện thoại số 0368219886 của Nguyễn Mạnh Đ; 01 sim điện thoại số 0888726444 của Nguyễn Trọng H.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng (Gold), số IMEI: 354741668733521, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng (Gold) số IMEI: 353110101784601, điện thoại đã cũ của Nguyễn Trọng H.
Trả lại cho anh Nguyễn Trọng H 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu bạc đen, biển số 19G1-442.26, xe cũ đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/7/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao).
Thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Mạnh Đ.
Thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Trọng H.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và bị cáo Nguyễn Trọng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Lâm Thao; - Công an huyện Lâm Thao; - Chi cục THADS huyện Lâm Thao; - UBND thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HSVA, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Trang |