vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 03/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều Luật: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Thị T.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Thị T, Đinh Thị H phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự tội đánh bạc T-H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều Luật: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 51/2023/HS - ST
Ngày 03/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thảo và ông Trịnh Xuân Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 03/11/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2023/TLST - HS ngày 15/0/2023 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST - HS ngày 16/10/2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 410/2023/TB-TA ngày 30/10/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đinh Thị T; sinh ngày 10/9/1973; nơi sinh: xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn 5, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao đông tự do; trình độ học vấn: 7/10; Chức vụ Đảng chính quyền đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh L và bà: Trần Thị K (đều đã chết); Anh chị em ruột: có 09 người, bị cáo là con thứ chín; Chồng: Hoàng Văn N - Đã chết; Con: có 02 con, con đầu sinh năm 1993, con thứ hai sinh năm 2004; Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 02/12/2022, bị Công an xã H, huyện H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/7/2023 đến nay tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

2. Họ và tên: Đinh Thị H; sinh ngày 11/6/1985; nơi sinh: xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn 7, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ;Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Chức vụ Đảng chính quyền đoàn thể: Không; Con ông: Đinh Viết H, đã chết và bà: Trần Thị L, sinh năm 1957; Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ 4; Chồng: Đinh Văn H, sinh năm 1982; Con: có 04 con, con đầu sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 02/12/2022, bị Công an xã H, huyện H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/7/2023 đến nay tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Đinh Thị N, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn 11, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; vắng mặt.

+ Chị Trần Thị N, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn 8, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; vắng mặt.

+ Bà Đinh Thị M, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn 7, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; vắng mặt.

+ Anh Ngô Thế Q, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn 7, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn 11, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; vắng mặt.

+ Chị Phan Thị N, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn 12, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Đinh Văn H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn 5, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

+ Anh Lê Văn H, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn 12, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11 tháng 5 năm 2023, Đinh Thị H, trú tại thôn 7, xã H; Đinh Thị T, trú tại thôn 5, xã H; Trần Thị N, trú tại thôn 8, xã H và Nguyễn Thị Hải Y, trú tại tổ dân phố 6, thị trấn H, huyện H đến nhà bà Đinh Thị N, trú tại thôn 11, xã H, huyện H để chơi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, trong lúc ngồi chơi nói chuyện thì Đinh Thị T nói: “Có bốn tay rồi ta mần hồi phỏm cho vui” H, N và Y đồng ý. Sau đó, cả bốn người ngồi tại khu vực phòng khách nhà bà N đánh bài phỏm ăn tiền, ai thắng sẽ được nhận tiền của những người thua theo mức 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng lần lượt của người nhì, ba, tư. Cả bốn người đánh bài ăn tiền đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, thì bị Công an xã H, huyện H phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại vị trí đánh bạc số tiền 160.000 đồng, 02 bộ bài tú lơ khơ và thu giữ trong người Đinh Thị T số tiền 1.650.000 đồng. Quá trình điều tra, những người tham gia đánh bạc khai cụ thể như sau: Đinh Thị T mang theo 1.650.000 đồng, Đinh Thị H, Trần Thị N mỗi người mang theo 80.000 đồng đều sử dụng đánh bạc, Nguyễn Thị Hải Y không mang theo tiền (đánh nợ).

Tiến hành kiểm tra trong phòng ngủ nhà bà Đinh Thị N, Công an xã H tiếp tục phát hiện các đối tượng gồm: Đinh Thị M, Ngô Thế Q, cùng trú tại thôn 7, xã H; Nguyễn Thị T, trú tại thôn 11, xã H và Phan Thị N, trú tại thôn 12, xã H cũng đánh bài ăn tiền nhưng khi bị lực lượng Công an phát hiện các đối tượng đã rời khỏi vị trí đánh bài, thu giữ tại chiếu 02 bộ bài và trong người Nguyễn Thị T 300.000 đồng, Ngô Thế Q 180.000 đồng, Phan Thị N 70.000 đồng, Đinh Thị M không mang theo tiền. Quá trình điều tra xác định, T sử dụng 360.000 đồng, Q sử dụng 220.000 đồng, N sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền mà các đối tượng dùng đánh bài ăn tiền là 680.000 đồng.

Về vật chứng: - Thu giữ tại vị trí đánh bạc ở phòng khách: Số tiền 160.000 đồng tại chiếu bạc, 02 bộ bài tú lơ khơ (52 quân); Số tiền 1.650.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ (Thu giữ của Đinh Thị T).

- Thu giữ tại vị trí đánh bạc ở phòng ngủ: 02 bộ bài tú lơ khơ (52 quân); Số tiền 2.300.000 đồng trong tủ quần áo của nhà bà Đinh Thị N; 01 điện thoại di động OPPO màu đen và 01 xe mô tô Sirius, biển kiểm soát 38B1-030.03 (Thu giữ của Đinh Thị M); Số tiền 300.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 7Plus, màu đen (Thu giữ của Nguyễn Thị T); Số tiền 70.000 đồng và 01 xe mô tô BKS 38B1-220.54 (Thu giữ của Phan Thị N); Số tiền 180.000 đồng (Thu giữ của Ngô Thế Q).

Quá trình điều tra, xác định được số tiền 2.300.000 đồng thu giữ trong tụ áo quần là của bà Đinh Thị N không liên quan đến hành vi đánh bạc; chiếc điện thoại di động OPPO màu đen; chiếc xe mô tô Sirius, biển kiểm soát 38B1-030.03 là của Đinh Thị M; điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ là của Đinh Thị T; chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus, màu đen là của Nguyễn Thị T; chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38B1-220.54 là Phan Thị N không liên quan đến hành vi đánh bạc, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu. Đối với số tiền 550.000 đồng các đối tượng tự nguyện giao nộp và 02 bộ bài thu giữ tại khu vực phòng ngủ nhà bà Đinh Thị N là tang vật của vụ việc vi phạm hành chính. Cơ quan điều tra đã chuyển toàn bộ tang vật này để xử lý theo thủ tục hành chính.

Các vật chứng khác đã thu giữ chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện H để xử lý theo đúng quy định.

Tại Cáo trạng số: 49/CT-VKS-HK ngày 12/9/2023 của Viện trường VKSND huyện H truy tố các bị cáo Đinh Thị T, Đinh Thị H về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đều khai nhận tội về hành vi đánh bạc của mình. Các bị cáo đều khẳng định lời khai tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Các bị cáo không có ý kiến gì đối với Cáo trạng truy tố và cũng không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo đều hối hận với hành vi phạm tội của mình, mong được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vi phạm tội lần đầu, có cơ hôi sữa chữa sai phạm do mình gây ra và cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị xử phạt Đinh Thị T từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng; bị cáo Đinh Thị H từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng. Ngoài ra, đề nghị xử lý vật chứng và tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc; buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo với lời khai tại Cơ quan Điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ đến 15 giờ 10 phút ngày 11/5/2023, tại nhà bà Đinh Thị N các bị cáo Đinh Thị T và Đinh Thị H là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính) lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với Trần Thị N và Nguyễn Thị Hải Y, bằng hình thức đánh bài phỏm, với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.810.000 đồng.

Mặc dù số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng tại thời điểm bị bắt các bị cáo là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng chưa hết thời hạn. Do đó, cáo trạng số: 49/CT-VKS-HK ngày 12/9/2023 của Viện trường VKSND huyện H truy tố các bị cáo Đinh Thị T, Đinh Thị H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét vị trí vai trò của từng bị cáo, số tiền thu giữ tại vị trí đánh bạc phạm tội quả tang và số tiền thu trên người các bị cáo dùng vào việc đánh bạc ở từng bị cáo được xác định: Trong vụ án này, Đinh Thị T là người rủ rê người khác đánh bạc và sử dụng số tiền 1.650.000 đồng để đánh bạc, nên giữ vai trò chính. Còn Đinh Thị H là người trực tiếp tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 80.000 đồng để thực hiện hành vi đánh. Tổng số tiền được xác định dùng vào đánh bạc 1.810.000đ. Do vậy khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ, vai trò của từng bị cáo, số tiền dùng vào việc đánh bạc. Hôi đồng xét xử sẽ cân nhắc áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hướng đến trật tự an toàn xã hội. Ðánh bạc là tội phạm thuộc tệ nạn xã hội lên án và là nguyên nhân làm phát sinh các hành vi phạm tội khác nên bị pháp luật nghiêm cấm. Các bị cáo là những người nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội..

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 BLHS.

Ngoài ra bị cáo Đinh Thị T có cha, mẹ đẻ là người có công, cha được nhà nước tăng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất; mẹ được nhà nước tăng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì; các bị cáo Đinh Thị T và Đinh Thị H hoàn cảnh khó khăn, có đơn trình bày xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận và đề nghị của chính quyền địa phương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt, nhân thân điều kiện hoàn cảnh người phạm tội, mức án mà vị đại điện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa cho cỏc bị cỏo là đủ nghiêm, phù hợp với hành vi phạm tội. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, địa chỉ rõ ràng, số tiền dựng vỔo việc đỏnh bạc khụng lớn. Do đó Viện kiểm sát đề xuất mức áp dụng hình phạt và điều luật phï hîp nên được chấp nhận.

Ðây là vụ án cỏc bị cáo, phạm tội mang tớnh chất giản đơn vỔ phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Đinh Thị T là người khởi xướng, trong lúc ngồi chơi nói chuyện có bốn người gồm có H, N và Y thì Đinh Thị T nói: “Có bốn tay rồi ta mần hồi phỏm cho vui” tất cả mọi người đều đồng ý cùng nhau đánh bài ăn tiền nhưng các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, phân nhiệm, không có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện để đánh bạc. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đinh Thị T cần áp dụng hình phạt cao hơn so với bị cáo Đinh Thị H là hoàn toàn phù hợp tính chất hành vi và phân hóa vai trò của các bị cáo trong vụ án. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, do đó xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo này khỏi xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương là phù hợp.

Xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó Hội đồng xét xử không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, cần có sự phân hóa hình phạt tương xứng trong vụ án nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Đinh Thị T được hưởng án treo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát; áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đổi với bị cáo Đinh Thị H và bị cáo là lao động tự do, không có nơi làm việc, thu nhập không ổn định, do đó miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đinh Thị H là phù hợp như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính các bị cáo phạm tội đánh bạc còn có thế bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy các bị cáo phạm tội đánh bạc đều vì mục định tư lợi cá nhân, xâm phạm trật tự công cộng, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo trong vụ án.

Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, đã qua sử dụng là các công cụ liên quan đến hành vi phạm tội theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với số tiền số tiền 1.810.000đ đồng dùng vào việc phạm tội, do đó cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, đường lối xử lý, xử lý vật chứng, án phí đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về những nội dung khác: Tại thời điểm bắt quả tang đánh bạc tại nhà bà Đinh Thị N có 02 chiếu bạc. Tuy nhiên tang số đánh bạc của mỗi chiếu bạc đều dưới 5.000.000 đồng và quá trình các đối tượng đánh bạc bà N không biết và không thu bất cứ một khoản tiền gì nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Các đối tượng tham gia đánh bạc gồm: Trần Thị N, Nguyễn Thị Hải Y, Nguyễn Thị T, Ngô Thế Q, Phan Thị N, Đinh Thị M tham gia đánh bạc nhưng tang số đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa bị xử lý về hành vi liên quan đến đánh bạc nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này theo đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều Luật: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Thị T.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Thị H.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban T vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Thị T, Đinh Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

3. Về hình phạt:

3.1. Xử phạt Đinh Thị T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng.

Giao bị cáo Đinh Thị T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thứ thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3.2. Xử phạt Đinh Thị H 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Đinh Thị H tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Đinh Thị H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 15/9/2023 giữa Cơ quan Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H).

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền số tiền 1.810.000đ đồng. Theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 20/9/2023 (Công an huyện H là đơn vị chuY tiền cho Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tại Kho bạc nhà nước huyện H).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Đinh Thị T, Đinh Thị H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ