- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ THANH T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 05 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đỗ Quốc Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phan Thị Tuyết và ông Dương Quốc Phòng.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Dung- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023; Thông báo hoãn phiên tòa số 04/TB-TA ngày 23/5/2023 đối với bị cáo:
Lê Thanh T, sinh ngày 02/3/1972 tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn Ph, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh Ph và bà Lê Thị B (đều đã chết); có vợ Phan Thị Th và có 03 người con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/12/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: cháu Lê Minh Ph, sinh năm 2011; nơi cư trú: thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: anh Lê Văn Q, sinh năm 1987 và chị Lý Thị Tr, sinh năm 1990 (là bố mẹ đẻ của bị hại cháu Lê Minh Ph); cùng nơi cư trú: thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, anh Quảng vắng mặt, chị Trang có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 12/11/2022, Lê Thanh T điều khiển xe ô tô BKS 73A-112.38 đi từ thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình về lại thị trấn Phong Nha, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo đường Hồ Chí Minh. Khi đến Km 970+220m trên đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Rẫy, xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe mô tô đang lưu thông phía trước, nên khi xe mô tô BKS 73F1-504.22 do chị Lý Thị Tr điều khiển cùng chiều phía trước, chở theo cháu Lê Minh Ph vừa dừng xe mô tô sát mép đường bên phải thì bị xe ô tô BKS 73A-112.38 do Táng điều khiển đã tông vào phần bên trái của xe mô tô BKS 73F1-504.22 theo chiều hướng từ sau tới trước so với trục chuyển động của xe mô tô, rồi chà trượt theo thành hồ lan can đường Hồ Chí Minh dài 10,6m. Hậu quả, cháu Lê Minh Ph bị thương nặng được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong, chị Lý Thị Tr bị thương, hai phương tiện bị hư hỏng.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 193/TT ngày 06/12/2022 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Quảng Bình, kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Lê Minh Ph: đa chấn thương: chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín.
Quá trình điều tra chị Lý Thị Tr từ chối giám định tổn thương sức khỏe do tai nạn giao thông gây ra. Chị Trần Thị Thanh T (người cho chị Lý Thị Tr mượn xe mô tô) từ chối định giá thiệt hại tài sản đối với xe mô tô BKS 73F1-504.22.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường tai nạn giao thông xảy ra tại Km 970+220m, trên đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Rẫy, xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đoạn đường thẳng, được rải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn thoáng được chia thành hai chiều đường riêng biệt, mỗi chiều đường rộng 3,5m và được phân cách với nhau bằng vạch sơn vàng đứt quãng ở giữa và được giới hạn bằng vạch sơn kẻ đường màu trắng liền nét bên ngoài. Hai bên chiều đường có lề đường rộng 1m và thành hồ lan can bằng kim loại cao 1m, hai bên đường là khu vực cây cối.
Lấy cột mốc ký hiệu “Km H2/970” làm mốc, lấy mép ngoài bên phải đường theo hướng di chuyển của hai phương tiện làm đường chuẩn để tiến hành khám nghiệm hiện trường, các dấu vết cụ thể như sau:
Vị trí (1): Đám cà trượt trên mặt đường kéo dài từ vạch sơn giới hạn dọc theo lề đường bên phải, chiều hướng Đông - Tây, kích thước: dài 10,6m; vị trí rộng nhất là 0,72m. Điểm đầu vị trí (1) nằm ngay trên vạch sơn giới hạn ở chiều đường bên phải, nằm về phía Đông Nam so với điểm mốc, cách điểm mốc là 20m; điểm cuối vị trí (1) kết thúc ở vị trí xe mô tô biển kiểm soát 73F1-504.22, cách ĐC là 0,52m;
Vị trí (2): Vết cà trượt bám dính chất sơn màu đỏ - đen trên thành hộ lan bên phải đường, chiều hướng Đông - Tây, kích thước: dài 11,15m; rộng 0,25m. Điểm đầu vị trí (1) cách điểm đầu vị trí (2) về hướng Đông Nam là 1,28m. Tâm điểm đầu và tâm điểm cuối vị trí (2) cùng cao cách mặt đất là 0,64m và ĐC là 1m.
Vị trí (4): Vị trí cây cỏ bên phải đường qua thành hộ lan bị ngã rạp, trên bề mặt vị trí có một áo khoác màu xanh trắng. Tâm vị trí (4) cách ĐC là 3,1m. Từ vị trí (3) đo đến tâm vị trí số (4) về hướng Đông là 4,5m.
Vị trí (5): Xe mô tô BKS 73F1-504.22, nhãn hiệu: HONDA, loại: Visio, màu sơn: đỏ - đen. Xe ngã nghiêng bên trái nằm trên lề đường chiều đường bên phải sát thành hộ lan. Đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. Từ tâm vị trí số 4 đo về hướng Đông Bắc 3,05m là tâm trục sau xe mô tô. Tâm trục sau xe mô tô đo vào vạch sơn giới hạn là 0,55m; tâm trục trước đo vào vạch sơn giới hạn là 0,6m.
Vị trí (7): Là 02 (hai) vết hằn song song trên nền cỏ phía Nam đường, kéo dài từ mép đường qua nền cỏ, cây cối bên đường và kết thúc tại vị trí xe ô tô biển kiểm soát 73A-112. 38, chiều hướng Tây Bắc - Đông Nam. Hai dấu vết có kích thước rộng 1,25m; dài 7,1m. Điểm đầu vị trí (7) cách ĐC là 1,0m. Vị trí điểm cuối gần nhất cách ĐC là 5,45m. Từ tâm vị trí (6) đo đến vị trí trí gần nhất của vị trí (7) hướng Đông Bắc là 2,75m.
Vị trí số (8): Vị trí cọc tiêu bằng bê tông bị gãy ngay chân cột, trên bề mặt hướng Đông phần cột bị gãy (có dán phản quang màu vàng ở đỉnh cột) bám dính chất cao su màu đen có hoạ tiết lốp xe ô tô, kích thước (0,3x0,1)m. Từ vị trí cọc tiêu đo đến vị trí trí gần nhất của vị trí (7) là 2,3m, cách ĐC là 1,0 m.
Kết quả khám nhiệm phương tiện: Tại bản kết luận giám định số 1269/KL-KTHS ngày 28/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Phần phía trên bên phải cản trước, phần giữa vỏ tại xe bên phải và thành xe bên phải xe ô tô BKS 73A-112.38 va chạm với tay cầm lái bên trái, ốp sau tay lái, phần giữa bên trái yên xe, mặt bên trái cốp xe, bình xăng, khung xe mô tô BKS 73F1-504.22 theo hướng từ sau tới trước so với trục dọc của xe mô tô BKS 73F1-504.22.
Việc thu giữ và xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã tạm giữ của Lê Thanh T: 01 xe ô tô BKS 73A-112.38, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2, có giá trị đến ngày 08/5/2029, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 73A-112.38; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm sát 73A-112.38, có hiệu lực đến ngày 08/10/2022; tạm giữ của chị Trần Thị Thanh T: 01 xe mô tô BKS 73F1-504.22, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, BKS 73F1-504.22, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô BKS 73F1-504.22. Đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là bị cáo Lê Thanh T 01 xe ô tô BKS 73A-112.38; trả lại cho chị Trần Thị Thanh T xe mô tô BKS 73F1-504.22 và các giấy tờ liên quan đến xe mô tô BKS 73F1-504.22. Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng B2, mang tên Lê Thanh T có giá trị đến ngày 08/5/2029 cùng giấy tờ của phương tiện xe ô tô BKS 73A-112.38, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã chuyển đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính do xe ô tô biển kiểm sát 73A-112.38 hết thời hạn kiểm định ATKT và BVMT, không có giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô.
Phần dân sự: Gia đình bị hại Lê Minh Ph và bị cáo Lê Thanh T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường tổng chi phí thiệt hại là 250.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường đủ; chị Trần Thị Thanh T là chủ phương tiện xe mô tô BKS 73F1-504.22 và bị cáo tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tài sản là 50.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường đủ.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKSBT ngày 12/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng với đại diện gia đình bị hại đã thoả thuận bồi thường đầy đủ, hiện tại phiên tòa, không ai có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Bố Trạch đã xử lý theo thẩm quyền, đúng quy định nên không xem xét và đề nghị tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Tại phiên tòa chị Lý Thị Tr có ý kiến: gia đình chị đã nhận bồi thường từ bị cáo số tiền 250.000.000 đồng rồi, hiện không yêu cầu gì thêm, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Trần Thị Thanh T có ý kiến: chị đã nhận bồi thường từ bị cáo số tiền 50.000.000 đồng rồi, hiện không yêu cầu gì thêm.
Bị cáo nhất trí với toàn bộ nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định pháp luật về tố tụng.
Việc người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Lê Văn Q vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy trong quá trình điều tra giải quyết vụ án, đã thu thập được lời khai của người này, nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh T đã khai nhận: Chính bị cáo là người mà vào khoảng 18 giờ ngày 12/11/2022 tại km 970+220m trên đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Rẫy, xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã điều khiển xe ô tô mang BKS 73A-112.38 tham gia giao thông đường bộ, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn nên đã tông vào xe mô tô BKS 73F1-504.22 do chị Lý Thị Tr điều khiển, chở theo cháu Lê Minh Ph vừa dừng xe bên phải mép đường phía trước, gây hậu quả làm cháu Lê Minh Ph tử vong. Xét lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và khám nghiệm tử thi cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã phạm vào khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Táng đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay.
Về tính chất, mức độ, hậu quả, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã được học và cấp giấy phép lái xe đúng quy định, lẽ ra khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông phải tuyệt đối chấp hành các quy định của luật giao thông đường bộ nhưng do thiếu quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi trước nên đã phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhằm khắc phục hậu quả; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự cần được xem xét cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên có khả năng tự tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo bản thân tại địa phương. Vì vậy, chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, để cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo hiện là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định. Mặt khác bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, không hành nghề kinh doanh liên quan đến các quy định về tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra bị cáo đã thoả thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000 đồng, bồi thường cho người có quyền lợi liên quan 50.000.000 đồng, hiện gia đình bị hại và người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bồi thường thêm, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã trả lại xe ô tô và xe mô tô cùng các loại tờ liên quan đến phương tiện cho các chủ sở hữu là phù hợp quy định của pháp luật, nay không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Riêng Giấy phép lái xe ô tô hạng B2, mang tên Lê Thanh T có giá trị đến ngày 08/5/2029 cùng giấy tờ của phương tiện xe ô tô BKS 73A-112.38, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã chuyển đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính về những lỗi vi phạm hành chính của Lê Thanh T là phù hợp theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, không ai có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Lê Thanh T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thanh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Phong Nha phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
2. Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Thanh T.
3. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: không xem xét.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Minh Ph là chị Lý Thị Tr, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đối với người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Minh Ph là anh Lê Văn Q vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - Công an huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - UBND thị trấn Phong Nha; - Bị cáo, người TGTT; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Quốc Tân |