- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Mỹ L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Nguyễn Đình Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:51/2023/HNGĐST Ngày: 20/9/2023. V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Cúc.
2. Bà Phan Thị Thanh Dung.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Lan Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Việt Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Mỹ L, sinh năm: 1982, địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm: 1973, địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Bà L có mặt, ông Q vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị Mỹ L trình bày:
Bà L và ông Q tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Q vào năm 2008. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp. Vợ chồng phần ai nấy sống từ năm 2021 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, bà L làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng bà được ly hôn.
Về con chung có hai con chung Nguyễn Uyên M, sinh ngày 22/10/2009; Nguyễn Hương Nh, sinh ngày: 12/01/2013. Nếu ly hôn bà L yêu cầu nuôi cả hai con, yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/ cháu.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Đình Q không có lời khai tại hồ sơ và tại phiên tòa.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Riêng đối với bị đơn ông Nguyễn Đình Q không có mặt tại phiên tòa mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ là vi phạm pháp luật tố tụng dân sự; Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Phan Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Đình Q. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Uyên M, sinh ngày 22/10/2009; Nguyễn Hương Nh, sinh ngày: 12/01/2013 cho bà L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; ông Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/ tháng; về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phan Thị Mỹ L có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Đình Q, sinh năm: 1974, địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Về thủ tục tố tụng: Ông Q là bị đơn đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Q vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do chính đáng, do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Q là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Mỹ L và ông Nguyễn Đình Q tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Quang, huyện Núi Thành vào năm 2004. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông Q là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà L do vợ chồng bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm hòa giải cho hai bên khắc phục mâu thuẫn quay về đoàn tụ nhưng ông Q không đến tòa, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Điều này thể hiện ông Q không có thiện chí hòa giải để khắc phục mâu thuẫn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Phan Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Đình Q là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có hai con chung gồm Nguyễn Uyên M, sinh ngày 22/10/2009; Nguyễn Hương Nh, sinh ngày: 12/01/2013. Bà L yêu cầu được nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử xét thấy: việc nuôi con phải phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng nuôi dưỡng cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho đứa trẻ. Các cháu M và Nh trên bảy tuổi nên cần xem xét nguyện vọng của cháu muốn được ở với mẹ để đảm bảo điều kiện chăm sóc. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định của các cháu, xét giao Nguyễn Uyên M, sinh ngày 22/10/2009; Nguyễn Hương Nh, sinh ngày: 12/01/2013 cho bà L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/ tháng. Yêu cầu của bà L là phù hợp với tình hình thực tế nên chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét
Về án phí hôn nhân – đình sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; ông Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Mỹ L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Nguyễn Đình Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Đình Q.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Nguyễn Uyên M, sinh ngày 22/10/2009; Nguyễn Hương Nh, sinh ngày: 12/01/2013 cho bà Phan Thị Mỹ L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Đình Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/ tháng kể từ tháng 10/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.
Ông Nguyễn Đình Q được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở ông Q thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Mỹ L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000025 ngày 05/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Ông Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bà L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Ông Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Núi Thành; - Chi cục THADS huyện Núi Thành; - TAND tỉnh Quảng Nam; - UBND xã Tam Quang, huyện Núi Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Thùy |