- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và Gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L. V. H. Anh L. V. H được ly hôn chị P. T. T. Linh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08/8/2023 Về tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNQUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Sơn Hóa
2. Bà Bùi Thi Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 935/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 về "tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXX - ST ngày 30 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh L. V. H, sinh năm 1988
Nơi cư trú: Căn hộ ..., nhà PV6 Linh Đàm, phường H. L, quận Hoàng
Mai, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 24/07/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Có mặt.
2. Bị đơn: Chị P. T. T. Linh, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Căn hộ ..., nhà PV6 Linh Đàm, phường H. L, quận Hoàng
Mai, thành phố Hà Nội. Giấy chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx cấp ngày 05/12/2011 tại Công an tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh L. V. H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị P. T. T. Linh kết hôn ngày 27/12/2017, đăng ký tại UBND xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến tháng 10 năm 2018 thì vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách. Đặc biệt chị Linh làm ăn thua lỗ dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn. Đến nay, anh và chị Linh đã sống ly thân nhiều tháng.
Bây giờ, anh Hoàng xác định tình cảm vợ chồng với chị Linh không còn, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, nên anh cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị Linh.
- Về con chung: Anh và chị P. T. T. Linh có 01 con chung, tên là L. B. N, sinh ngày 04/8/2018 (nữ). Từ khi anh chị sống ly thân thì các con chung ở với chị Linh. Khi ly hôn anh Hoàng đồng ý để chị Linh trực tiếp nuôi dưỡng con chung; việc cấp dưỡng, anh và chị Linh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nhà đất ở chung và khoản nợ chung: Anh khẳng định anh và chị Linh không có, anh không yêu cầu Tòa án xem xét.
Bị đơn chị P. T. T. Linh: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án, đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và rất nhiều lần báo chị Linh đến Tòa án để giải quyết theo quy định của pháp luật nhưng chị Linh không đến. Do đó, Tòa án không ghi được ý kiến của chị Linh.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn: Anh L. V. H tiếp tục khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, anh sống với chị P. T. T. Linh không có hạnh phúc. Đến nay, hai vợ chồng đã sống ly thân hơn năm. Anh cương quyết yêu cầu được ly hôn chị Linh. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị Linh trực tiếp nuôi dưỡng con chung; việc cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nhà đất ở chung và khoản nợ chung: Anh tiếp tục khẳng định anh và chị Linh không có, anh không yêu cầu xem xét.
Bị đơn: Vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thụ lý Đơn ly hôn của anh L. V. H đối với chị P. T. T. Linh là đúng thẩm quyền, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành đúng trình tự tố tụng quy định tại các Điều 195, 196 và 197 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định, còn bị đơn không chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Cụ thể, chị Linh không đến theo giấy báo của Tòa án, không trình bày quan điểm, dẫn đến Tòa án phải làm thủ tục niêm yết nhiều lần các văn bản tố tụng. Đó là sự khó khăn của Tòa án, dẫn đến thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài. Tại phiên tòa ngày 20/7/2023, bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên tòa. Phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt, nên Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiếp tục xét xử là đúng quy định.
Kiểm sát viên đề nghị về việc giải quyết vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, yêu cầu của đương sự, phân tích căn cứ pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng, xử cho anh Hoàng được ly hôn chị Linh; giao con chung cho chị Linh trực tiếp nuôi dưỡng, chị Linh không yêu cầu anh Hoàng cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Hoàng cho đến khi có yêu cầu; về chia tài sản chung, khoản nợ chung: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh L. V. H có Đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đối với chị P. T. T. Linh cư trú tại: Căn hộ ..., nhà PV6 Linh Đàm, phường H. L, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn chị Linh, thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, không có ý kiến và cũng không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Do vậy, Tòa án đã phải niêm yết nhiều văn bản tố tụng. Để đảm bảo thời hạn xét xử và quyền lợi chính đáng của đương sự, Tòa án cần mở phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Anh L. V. H và chị P. T. T. Linh kết hôn tự nguyện. Ngày 27/12/2017, anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc. Đến tháng 10 năm 2018, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do anh chị không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, anh chị đã sống ly thân từ tháng 05 năm 2022.
Quá trình giải quyết vụ án, được biết chị Linh đã thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, giấu chỗ ở hiện tại không cho anh Hoàng biết. Vì vậy, Tòa án đã nhiều lần phải niêm yết văn bản tố tung để giải quyết vụ án theo quy định.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Hoàng yêu cầu được ly hôn đối với chị Linh, cần căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cần chấp nhận cho anh Hoàng được ly hôn chị Linh.
Về con chung: Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định chị Linh và anh Hoàng có 01 con chung, tên là L. B. N, sinh ngày 04/8/2018 (nữ). Từ khi anh chị sống ly thân thì con chung ở với chị Linh. Khi ly hôn, anh Hoàng đồng ý để chị Linh trực tiếp nuôi dưỡng con chung; việc cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Hoàng.
Về tài sản chung, nhà đất chung và nợ chung: Anh Hoàng trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, anh L. V. H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, chị P. T. T. Linh không phải chịu.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp , quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L. V. H. Anh L. V. H được ly hôn chị P. T. T. Linh.
2. Về con chung: Xác nhận anh L. V. H và chị P. T. T. Linh có 01 con chung, tên là L. B. N, sinh ngày 04/8/2018 (nữ). Giao con chung cho chị P. T. T. Linh trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh L. V. H cho đến khi có yêu cầu.
Anh L. V. H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.
3. Về tải sản chung: Đương sự không có yêu cầu giải quyết. Tòa không xét.
4. Về án phí: Anh L. V. H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2020/0050XXX ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Anh L. V. H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Anh L. V. H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; chị P. T. T. Linh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND quận Hoàng Mai; - Chi cục THA dân sự quận Hoàng Mai; - UBND xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (để ghi vào sổ hộ tịch: GCNKH số 21/2017, ngày 27/12/2017); - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Chiều |