- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Lưu Thị T - anh Nguyễn Anh T"
- Tòa quyết gì? Cho chị Lưu Thị T được ly hôn anh Nguyễn Anh T
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HNGĐ - ST Ngày 31 tháng 7 năm 2023 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Triển
2. Ông Phùng Văn Thông
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2023/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị T, sinh năm 1993 (vắng mặt - có đơn xin giải quyết vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn và các lời khai tiếp theo nguyên đơn - chị Lưu Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi kết hôn với anh Nguyễn Văn T ngày 30/10/2017 tại UBND xã N, huyện V, tỉnh Vinh Phúc. Sau khi kết hôn, tôi về làm dâu và ở chung cùng gia đình anh T. Tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T ngoại tình với người đàn bà khác, nhiều lần tôi khuyên bảo nhưng anh T không nghe. Việc anh T ngoại tình tôi có tin nhắn, hình ảnh, và đến nay bản thân anh T cũng nhất trí ly hôn tôi không có yêu cầu đề nghị gì về việc anh T ngoại tình. Đến tháng 9/2022, vợ chồng tôi sống ly thân cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống nuôi dạy các con, tôi xin được ly hôn anh T.
Vê con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Tuệ A sinh ngày 06/01/2018 và Nguyễn Mộc D sinh ngày 25/5/2019. Hiện nay cả hai con chung đang ở cùng tôi. Ly hôn, tôi xin tiếp tục nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay tôi đang làm giáo viên dạy tại trường Tiều học N – thành phố V. Các cháu đang học trường Mầm non Ngô Quyền. Ba mẹ con tôi thuê nhà trọ ở thành phố V tiện việc các cháu đi học và tôi đi làm. Thu nhập của tôi là 11 triệu đồng/ 1 tháng. Ngoài ra tôi còn làm gia sư dạy tại nhà cho các em học sinh. Mẹ tôi còn trẻ khỏe hiện đang ở cùng tôi giúp tôi chăm sóc và trông nom các con.
Về tài sản chung, công nợ, đất canh tác và công sức: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn - anh Nguyễn Văn T vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 31/03/2023, anh T khai: Tôi và chị Lưu Thị T yêu nhau và đăng ký kết hôn ngày 30/10/2017 tại UBND xã N. Đến nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể giải quyết được. Vì vậy chúng tôi có nguyện vọng ly hôn để sớm ổn định tinh thần và cuộc sống. Về con chung: 1. Nguyễn Tuệ A sinh ngày 06/01/2018; 2. Nguyễn Mộc D sinh ngày 22/5/2019. Chúng tôi thống nhất 2 con sẽ ở với mẹ, chu cấp tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết. Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa giải quyết. Về nợ chung: Không yêu cầu tòa giải quyết.
Anh T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường trình bày quan điểm.
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi xét xử thẩm phán giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, quá trình thu thập chứng cứ tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành thời hạn xét xử đúng quy định. Tại phiên tòa, việc khai mạc phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa được thực hiện đúng quy định. Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị về thủ tục tố tụng: Không có.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Anh T. Về con chung giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản, công nợ, đất canh tác và công sức: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lưu Thị T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Anh T, anh T có hộ khẩu thường trú tại xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ Hôn nhân và gia đình giữa chị Lưu Thị T và anh Nguyễn Anh T thấy rằng:
Chị Lưu Thị T và anh Nguyễn Anh T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký tại UBND xã N, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 30/10/2017 là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bản thân chị T và anh T đều thừa nhận vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Chị T xin ly hôn anh T cũng nhất trí.
Xác minh tại UBND xã N được biết: Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không rõ, chỉ biết từ tháng 9/2022, chị T và anh T không còn chung sống cùng nhau và đã sống ly thân cho đến nay.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T đã đến mức căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh T là phù hợp.
. Về con chung: Do cả hai con chung đang ở cùng chị T, để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt của các cháu nên giao cả hai con chung cho chị T nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của các đương sự. Chị T và anh T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản, công nợ và các vấn đề khác: Do các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Cho chị Lưu Thị T được ly hôn anh Nguyễn Anh T
Về con chung: Giao cho chị Lưu Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung là Nguyễn Tuệ A sinh ngày 06/01/2018 và Nguyễn Mộc D sinh ngày 25/5/2019. Hiện nay cả hai con chung đang ở cùng chị T. Chị T và anh T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Lưu Thị T phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005975 ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường; - UBND xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (để biết); - Các đương sự; -LưuHSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |