- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mè Thị S và Lò Văn N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Mè Thị S được ly hôn anh Văn N.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HNGĐ- ST Ngày: 30-6-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, tài sản chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ng Văn uốc
2. ng Phạm Ngọc Thiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị an Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn a.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: ng Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở T a án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2023/T ST - HNGĐ ngày 06/02/2023 theo uyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/ ĐXXST- HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mè Thị S, sinh năm 2002. (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Lò Văn N, sinh năm 1996. (Có mặt).
Địa chỉ: Đều trú tại bản S, x T, huyện Thu n Châu, tỉnh Sơn a.
3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Văn T (Có mặt); Bà ường Thị P (Vắng mặt tại phiên toà).
Địa chỉ: Đều trú tại bản Sen To, xã T, huyện TC, tỉnh Sơn a.
Ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà Lƣờng Thị P là: Ông Văn T. (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/02/2023, bản tự khai ngày 06/02/2023; biên bản hòa giải ngày 21/02/2023 và tại phiên toà nguyên đơn chị Mè Thị S trình bày:
Về hôn nhân: Chị Mè Thị S và anh Văn N kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 29/6/2020, tại Ủy ban nhân dân x Chiềng a, huyện TC, tỉnh Sơn a, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. uá trình chung sống đến tháng 11 năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hoà hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra c i v , vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng sống ly thân từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Mè Thị S xác định tình cảm vợ chồng không c n, chị yêu cầu ly hôn với anh Văn N.
Về con chung: Chị Mè Thị S và anh Văn N có một con chung: Cháu LÒ Đức H, sinh ngày 03/7/2021.
Chị Mè Thị S có nơi cư trú ổn định. Chị Son làm trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê thêm, có thu nh p ổn định, thu nh p bình quân hàng tháng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Chị Son có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con. Chị Mè Thị S đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Ò Đức H.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mè Thị S đề nghị anh Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021, mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Tài sản chung gồm 01 ngôi nhà xây mái bằng, có nhà bếp và công trình phụ, lát gạch hoa, nhà xây dựng trên đất là tài sản của ông Văn T và bà ường Thị P, giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 0512071, số vào sổ 00546 theo uyết định số 99/ Đ-UBND huyện TC mang tên Văn T tại bản Phiêng Phai, x T ng Cọ ( nay là bản Sen To, xã T), huyện TC, tỉnh Sơn a. Ngôi nhà xây bằng tiền mừng tổ chức đám cưới nhà gái và nhà trai của chị Mè Thị S và anh Lò Văn N và số tiền do vợ chồng chị Son, anh Ngoan bán vàng (được tặng đám cưới), tiền thu nh p của hai vợ chồng đưa cho ông Thái bà Phiếu để xây nhà. Chị Son đề nghị giao ngôi nhà cho anh Ngoan sở hữu, yêu cầu anh Ngoan có nghĩa vụ trả cho chị ½ giá trị tài sản chung.
Những tài sản chung khác, có giá trị thấp, vợ chồng đ tự thỏa thu n không yêu cầu T a án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Mè Thị S cam đoan không có nợ chung.
Trong bản tự khai và tại phiên hòa giải ngày 21/02/2023, tại phiên toà bị đơn anh Lò Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Văn N và chị Mè Thị S kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 29/6/2020, tại Ủy ban nhân dân x Chiềng a, huyện TC, tỉnh Sơn a, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. uá trình chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 11 năm 2022 đến nay. Anh Văn N xác định tình cảm vợ chồng không c n. Anh Văn N nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh Văn N và chị Mè Thị S có một con chung: Cháu LÒ Đức H, sinh ngày 03/7/2021.
Anh Ngoan làm nghề lái xe, thu nh p bình quân mỗi tháng từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng, anh đảm bảo đủ khả năng và điều kiện nuôi con. Anh Ngoan đề nghị được được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Văn N không yêu cầu chị Mè Thị S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Đối với 01 ngôi nhà mái bằng, có nhà bếp và công trình phụ, lát gạch hoa, nhà xây dựng trên đất của bố mẹ đẻ anh Ngoan, đất là tài sản của ông Văn T và bà ường Thị P, giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 0512071, số vào sổ 00546 theo uyết định số 99/ Đ-UBND huyện TC mang tên Văn T tại bản Phiêng Phai, x T ng Cọ ( nay là bản Sen To, xã T), huyện TC, tỉnh Sơn a. Nhà xây hoàn toàn bằng tiền mừng tổ chức đám cưới của hai bên gia đình nội ngoại, nhà do bố mẹ đẻ anh Ngoan (ông Văn T và bà ường Thị P) làm cho hai vợ chồng sau khi cưới nhau tại bản Sen To, xã T, huyện TC, tỉnh Sơn a. Anh Ngoan không nhất trí là tài sản chung của vợ chồng, anh Ngoan không nhất trí trả cho chị Son ½ giá trị tài sản chung.
Có một số tài sản chung đ thỏa thu n xong, không yêu cầu T a an giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Văn N cam đoan không có nợ chung.
Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn T, bà Lường Thị P:
Về ngôi nhà khép kín mái bằng có nhà vệ sinh, bếp có diện tích 65m2. Ngôi nhà xây trên đất là tài sản của ông Văn T và bà ường Thị P, giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 0512071, số vào sổ 00546 theo uyết định số 99/ Đ-UBND huyện TC mang tên Văn T tại bản Phiêng Phai, x T ng Cọ ( nay là bản Sen To, xã T), huyện TC, tỉnh Sơn a, nhà do vợ chồng ông, bà Văn T và bà ường Thị P xây cho vợ chồng anh Ngoan, chị Son, nhà được làm bằng tiền mừng tổ chức đám cưới nhà gái 71.500.000đ và nhà trai 84.000.000đ, trừ chi phí tổ chức đám cưới c n 130.000.000đ, ông, bà Văn T và bà ường Thị P làm nhà cho vợ chồng anh Ngoan, chị Son. ng Văn T, bà ường Thị P cho rằng ngôi nhà là tài sản chung của ông Văn T và bà ường Thị P. Ông Văn T, bà ường Thị P không nhất trí với yêu cầu chia tài sản chung của chị Mè Thị S. Ông Văn T, bà ường Thị P đề nghị là ông Văn T và bà ường Thị P được sở hữu ngôi nhà.
Ngoài những tài liệu, chứng cứ do các đương sự đ giao nộp. Chị Son, anh Ngoan, ông Thái không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm và không yêu cầu triệu t p đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
T i biên bản xác minh ngày 10/4/2023: Tại bản Sen To, xã T, huyện TC, tỉnh Sơn a, chị Mè Thị S, anh Văn N có nơi cư trú ổn định. Chị Mè Thị S và anh
Văn N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân x Chiềng a, huyện huyện TC, tỉnh Sơn a. uá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không nắm được. Hiện tại chị Mè Thị S và anh Văn N đ sống ly thân. Chị Mè Thị S và anh Văn N có 01 (một) con chung, cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021.
T i kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐG ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện TC kết luận: Đất trồng cây hàng năm khác, diện tích 108,1 m2 trị giá 2.918.700 đồng ( hai triệu chín trăm mười tám nghìn bảy trăm đồng). Tài sản trên đất: Căn nhà 01 tầng trị giá: 287.055.746 đồng (hai trăm tám mươi bảy triệu, không trăm năm mươi năm nghìn, bảy trăm bốn mươi sáu đồng).
Đối với chi phí xem xét, thẩm đinh tại chỗ, định giá tài sản. Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí, không yêu cầu T a án giải quyết.
Đ i diện Viện ki m sát nhân dân huyện Thuận Châu, t nh S n La tham gia phiên tòa phát bi u ý kiến về ki m sát việc tuân theo pháp luật:
Về tố tụng: Việc thụ lý, giải quyết của thẩm phán và quá trình xét xử của Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp lu t tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp lu t, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đ thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ lu t tố tụng dân sự. Bị đơn đ thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ lu t tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 73 Bộ lu t tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 61, Điều 81, Điều 82, Điều 83 u t hôn nhân và gia đình; Điều 207; Điều 209; Điều 213 Bộ lu t dân sự. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 271, Điều 273 Bộ lu t tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mè Thị S được ly hôn anh Văn N.
Về con chung: Giao cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021 cho chị Mè Thị S được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Văn N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Giao tài sản chung là ngôi nhà xây trên đất là tài sản của ông Văn T và bà ường Thị P, giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 0512071, số vào sổ 00546 theo uyết định số 99/ Đ-UBND huyện TC mang tên Văn T tại bản Phiêng Phai, x T ng Cọ ( nay là bản Sen To, xã T), huyện TC, tỉnh Sơn a cho anh Văn N sở hữu, anh Ngoan có nghĩa vụ trả cho chị Son một phần giá trị tài sản chung ( giá trị ngôi nhà). Anh Ngoan có nghĩa vụ trả cho ông Thái, bà Phiếu một phần giá trị tài sản chung ( giá trị ngôi nhà).
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Mè Thị S, anh Văn N cam đoan không có nợ chung.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra xem xét tại phiên t a, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Mè Thị S yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn N có địa chỉ tại bản Sen To, x Tông Cọ, huyện Thu n Châu, tỉnh Sơn a. T a án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn a thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ lu t Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà ường Thị P, vắng mặt tại phiên toà, bà ường Thị P có văn bản ủy quyền cho ông Văn T ( là chồng bà Phiếu) tham gia tố tụng tại T a án. Xét thấy việc ủy quyền của các đương sự là đúng pháp lu t, tại phiên t a các đương sự giữ nguyên việc ủy quyền, căn cứ khoản 4 Điều 73 của Bộ lu t tố tụng dân sự cần chấp nh n.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Mè Thị S và anh Văn N kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 29/6/2020, tại Ủy ban nhân dân x Chiềng a, huyện TC, tỉnh Sơn a, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc, quan hệ hôn nhân giữa chị Son và anh Ngoan là hợp pháp, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 11 năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra c i v , không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Son, anh Ngoan sống ly thân từ tháng 11/2022 đến nay. Chị Mè Thị S cho rằng tình cảm vợ chồng không c n, chị đề nghị được ly hôn anh Lò Văn N. Bị đơn anh Văn N cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, anh Ngoan nhất trí ly hôn với chị Mè Thị S.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, tài liệu thu th p của Toà án: uá trình chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra c i v , hai vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chống sống ly thân từ tháng 11/2022.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Son và anh Ngoan trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Mè Thị S được ly hôn anh Văn N. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 u t Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Mè Thị S và anh Văn N có 01 cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021.
Chị Mè Thị S, anh Văn N đều có nguyện vọng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Ò Đức H. Chị Mè Thị S đề nghị anh Lò Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021, mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng. Anh Văn N không yêu cầu chị Mè Thị S cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Son, anh Ngoan có nơi cư trú rõ ràng, đều có thu nh p. Tuy nhiên cháu Ò Đức H c n nhỏ (dưới 36 tháng tuổi).
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền, lợi ích của con, sự phát triển về tâm sinh lý, giao cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021 cho chị Mè Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Văn N có công việc và thu nh p bình quân mỗi tháng từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, căn cứ vào mức thu nh p của anh Ngoan, chấp nh n một phần yêu cầu của chị Son, buộc anh Văn N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021, mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 7/2023 cho đến khi cháu Huy đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 u t Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Đối với một ngôi nhà khép kín mái bằng có nhà vệ sinh, bếp có tổng diện tích 105,99m2, trị giá 287.055.746 đồng, (không bao gồm giá trị đất) xây trên đất của ông Văn T và bà ường Thị P (bố mẹ đẻ của anh Ngoan), giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 0512071, số vào sổ 00546 theo uyết định số 99/ Đ-UBND huyện TC mang tên Văn T tại bản Phiêng Phai, x T ng Cọ ( nay là bản Sen To, xã T), huyện TC, tỉnh Sơn a.
Nguyên đơn chị Mè Thị S, bị đơn anh Văn N xác nh n nguồn gốc tài sản (căn nhà) là tiền mừng tổ chức đám cưới nhà gái và nhà trai của chị Mè Thị S và anh Văn N và số tiền do vợ chồng chị Son, anh Ngoan bán vàng (được tặng đám cưới), tiền thu nh p của hai vợ chồng đưa cho ông Thái bà Phiếu để xây nhà.
Chị Mè Thị S cho rằng căn nhà là tài sản chung của vợ chồng, chị đề nghị chia ½ giá trị ngôi nhà, chị thừa nh n đất là tài sản của ông Văn T, bà ường Thị P.
Anh Ngoan không nhất trí là tài sản chung của vợ chồng, anh Ngoan không nhất trí trả cho chị Son ½ giá trị tài sản chung, anh Ngoan cho rằng căn nhà là tài sản của bố mẹ đẻ anh Ngoan là ông Thái, bà Phiếu.
Ông Văn T và bà ường Thị P thừa nh n số tiền làm nhà là tiền mừng cưới của nhà gái và nhà trai, ông bà cho rằng là tài sản của ông bà, không nhất trí yêu cầu chia tài sản của chị Mè Thị S.
Xét thấy tài sản 01 căn nhà anh Văn N, chị Mè Thị S đang sử dụng, được xây dựng trên đất của ông Văn T, bà ường Thị P. Nguồn gốc tài sản được hình thành từ số tiền mừng cưới của gia đình nhà gái (chị Son), nhà trai (anh Ngoan), sau khi được trừ đi chi phí đám cưới và tiền bán vàng mừng đám cưới của chị Son, anh Ngoan và tiền thu nh p của chị Son, anh Ngoan đều giao cho ông Văn T, bà ường Thị P giữ.
uá trình xây dựng nhà ông Thái trực tiếp chi trả từ nguồn gốc số tiền trên, ông Thái, bà Phiếu đều thừa nh n không đóng góp thêm số tiền nào khác.
Quá trình chung sống sau khi cưới tháng 6/2020 chị Son, anh Ngoan về sống chung với bố, mẹ chồng (ông Thái, bà Phiếu) đến nay, sau đó xây dựng căn nhà tại bản Sen To, x Tông Cọ, huyện Thu n Châu, tỉnh Sơn a, trên đất của ông Thái, bà Phiếu.
Từ các căn cứ trên xác định: Tài sản 01 ngôi nhà diện tích 105,99m2, trị giá 287.055.746 đồng, không bao gồm giá trị đất (xây dựng trên đất của ông Văn T, bà ường Thị P) là tài sản chung của vợ chồng chị Mè Thị S, anh Văn N và vợ chồng ông Văn T, bà ường Thị P.
Xét công sức đóng góp trong việc tạo l p tài sản chung ngoài số tiền mừng cưới, c n lại là số tiền do chị Son, anh Ngoan bán vàng và thu nh p từ lao động của vợ chồng chị Son, anh Ngoan. Giá trị tài sản chung trị giá 287.055.746 đồng, vợ chồng chị Son, anh Ngoan được hưởng giá trị 200.055.746 đồng, vợ chồng ông Thái, bà Phiếu được hưởng giá trị 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng).
Anh
Văn N được sử dụng 01 ngôi nhà diện tích 105,99m2, trị giá 287.055.746 đồng (không bao gồm giá trị đất), xây dựng trên đất của ông Thái, bà Phiếu (là bố, mẹ đẻ của anh Ngoan). Tại địa chỉ bản Sen To, xã T huyện TC, tỉnh Sơn a, giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 0512071, số vào sổ 00546 theo uyết định số 99/ Đ-UBND huyện TC mang tên Lò Văn T.
Anh Văn N có nghĩa vụ trả cho ông Thái, bà Phiếu một phần giá trị tài sản chung (giá trị nhà) số tiền 87.000.000 đồng.
Anh Văn N có nghĩa vụ trả cho chị Son ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng số tiền 100.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 59; Điều 61 u t Hôn nhân và gia đình; Điều 207; Điều 209; Điều 213 Bộ lu t dân sự.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Mè Thị S, anh Văn N cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Chị Mè Thị S, anh Văn N, ông Văn T, bà ường Thị P có ý kiến xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Mè Thị S, Văn N, ông Lò Văn T, bà ường Thị P là người dân tộc thiểu số sống ở x có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị uyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Mè Thị S, miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ lên quan, miễn án phí cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 59; Điều 61; Điều 81; Điều 82; Điều 83 u t Hôn nhân và gia đình; Điều 207; Điều 209; Điều 213 Bộ lu t dân sự. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 271, Điều 273 Bộ lu t tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị uyết số 326/2016/N -UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Mè Thị S được ly hôn anh Văn N.
2. Về con chung: Giao cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021 cho chị Mè Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Văn N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Ò Đức H, sinh ngày 03/7/2021, mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 7/2023 cho đến khi cháu Ò Đức H đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
3. Về tài sản chung: Giao anh Văn N được sử dụng 01 (một) ngôi nhà xây, có tổng diện tích 105,99m2, trị giá 287.055.746 đồng (hai trăm tám mươi bảy triệu không trăm năm mươi năm nghìn bảy trăm bốn mươi sáu đồng), không bao gồm giá trị đất, xây dựng trên đất của ông Văn T, bà ường Thị P (là bố mẹ đẻ của anh Ngoan). Tại địa chỉ bản Sen To, xã T huyện TC, tỉnh Sơn a, giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 0512071, số vào sổ 00546 theo uyết định số 99/ Đ-UBND huyện TC mang tên Văn T.
Buộc anh Văn N có nghĩa vụ trả cho ông Văn T, bà ường Thị P một phần giá trị tài sản chung số tiền 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng) .
Buộc anh Văn N có nghĩa vụ trả cho chị Mè Thị S ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng trong tổng số tiền 200.055.746 đồng (hai trăm triệu không trăm năm mươi năm nghìn bảy trăm bốn mươi sáu đồng) là số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
4. Về tài sản riêng vợ chồng: Không.
5. Về nợ chung: Chị Mè Thị S, anh Văn N không có nợ chung.
6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Mè Thị S, miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho nguyên đơn chị Mè Thị S, bị đơn anh Văn N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Văn T, bà ường Thị P, miễn án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ cho bị đơn anh Văn N. Hoàn trả lại chị Mè Thị S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đ nộp là 3000.000 đồng (ba triệu đồng) theo biên lai số: AA/2021/0003201, ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Sơn a.
7. Về quyền kháng cáo: Chị Mè Thị S, anh Văn N, ông Văn T, bà ường Thị P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 30/6/2023).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn a; - VKSND huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - UBND xã C, huyện TC, tỉnh Sơn a; - Đương sự; - ưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |