- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "AN - NGỌC"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị An về việc xin ly hôn và nuôi con chung với bị đơn anh Danh Ngọc.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG ——————— Bản án số: 51/2023/HNGĐ -ST Ngày: 09/6/2023 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Pì Sách.
- Các Hội Thẩm Nhân Dân: Ông Nguyễn Duy Khƣơng và ông Vũ Văn Hợp
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 92/2023/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2023, về việc "Tranh chấp xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Thị An, sinh năm: 1997
Địa chỉ: ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
( Chị An có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Anh Danh Ngọc, sinh năm: 1992
Địa chỉ: ấp Tân Hưng, xã Giục Tượng, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang
(Anh Ngọc vắng mặt phiên tòa lần thứ 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 08/3/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Thị An trình bày: Tôi và chồng tôi kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và chồng tôi có 02 người con chung tên Danh Thị Như Ý, sinh ngày 24/04/2017 và Danh Thị Như Ái, sinh ngày 06/02/2019 hiện đang sống cùng tôi.
Về tài sản chung: Thời gian chung sống không có tạo lập được tài sản chung.
Về nợ chung: Vợ chồng tôi không có nợ chung.
Thời gian đầu sống với nhau rất hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì vợ chồng tôi bắt đầu mâu thuẫn và ly thân từ đó đến nay, nguyên nhân mâu thuân là bất đồng quan điểm, hay cải vã nhau mặc dù tôi cố gắng khắc phục nhưng không thành.
Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi như sau:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với chồng tên Danh Ngọc
- Về con chung: Xin được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung tên Danh Thị Như Ý, sinh ngày 24/04/2017 và Danh Thị Như Ái, sinh ngày 06/02/2019 không yêu cầu anh Quý cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Danh Ngọc đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thống báo thụ lý vụ án nhưng anh Ngọc cố tình trốn tránh không nhận nên Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Qua thời gian luật định anh Quý vẫn không tự khai và cũng không có ý kiến gởi đến Tòa án. Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để cho vợ chồng anh Ngọc và chị An có cơ hội hàn gắn đoàn tụ nhưng anh Ngọc vẫn cố tình vắng mặt. Trước khi mở phiên tòa hôm nay Tòa án cũng đã triệu tập anh Ngọc đến lần thứ hai nhưng anh Ngọc vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả xác minh Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo trình tự thủ tục pháp luật tố tụng quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Thị An yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Danh Ngọc, do đó đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo biên bản xác minh ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành với ấp Tân Hưng, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xác nhận như sau: Anh Danh Ngọc có thường trú tại ấp Tân Hưng, xã Giục Tượng, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang là thật và hiện tại anh Ngọc vẫn sinh sống và làm việc tại địa phương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.
[1.2] - Về sự có mặt của đương sự: Bị đơn anh Danh Ngọc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Ngọc vắng mặt không lý do nên hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị An và anh Danh Ngọc xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/01/2018 và được UBND xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị An nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp, thường hay xảy ra cự cải và anh Ngọc còn có người phụ nữ khác. Thực tế chị An và anh Ngọc đã sống ly thân trong thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Đối với anh Ngọc Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Ngọc nhưng anh Ngọc vẫn không có mặt theo thông báo của Tòa án đều này thể hiện anh Ngọc không muốn hòa giải, hàn gắn để được đoàn tụ với chị An.
HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Thị An và anh Danh Ngọc đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị An vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Ngọc để ổn định cuộc sống. Do vậy, yêu cầu của chị An xin ly hôn với anh Ngọc là phù hợp theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận.
Về con chung: Chị An xác nhận trong thời gian chung sống giữa anh chị có 02 người con chung tên Danh Thị Như Ý, sinh ngày 24/04/2017 và Danh Thị Như Ái, sinh ngày 06/02/2019 và tại phiên tòa chị An yêu cầu được tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con. HĐXX xét thấy từ khi vợ chồng chị An sống ly thân với nhau đến nay con do chị An chăm sóc nuôi dưỡng nên HĐXX xét thấy cần tiếp tục giao 02 người con cho chị An tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, HĐXX đã giải thích cho chị An về quyền yêu cầu anh Ngọc cấp dưỡng nuôi 02 con cho đến khi đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật, nhưng chị An xác định không yêu cầu anh Ngọc cấp dưỡng nuôi con và việc chị An không yêu cầu anh Ngọc phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX miễn xét.
Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Ngọc đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Ngọc vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung giữa chị An và anh Ngọc được. Trong quá trình giải quyết vụ án chị An xác nhận vợ chồng chị không có tạo lập tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[ 2.5] Về nợ chung: Chị Thị An xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX miễn xét.
Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Thị An là nguyên đơn do đó phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị An về việc xin ly hôn và nuôi con chung với bị đơn anh Danh Ngọc.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thị An với anh Danh Ngọc
2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Danh Thị Như Ý, sinh ngày 24/04/2017 và Danh Thị Như Ái, sinh ngày 06/02/2019 cho chị An tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị An không yêu cầu anh Ngọc cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
Anh Ngọc có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Thị An xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Thị An xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
5. Về án phí: Buộc chị Thị An phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng chị Phượng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005433, ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Chị An không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. N¬i nhËn:
TM. Héi §ång XÐt Xö S¬ ThÈm
- C¸c ® ¬ng sù;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tØnh Kiªn Giang;
- ViÖn KiÓm s¸t huyÖn Ch©u Thµnh;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- L u hå s¬.
Danh Pì Sách
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Kiên Giang; - VKS Huyện Châu Thành; - Các đương sự - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Toà Danh Pì Sách |