vanban.org

Bản án 51/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị Kim C là vợ chồng.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn P phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008458, ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông P yêu cầu không công nhận quan hệ giữa ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị Kim C là vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị Kim C là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-8-2023
“V/v yêu cầu tuyên bố không công
nhận quan hệ vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Ngân;

Ông Nguyễn Quang Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 590/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 về “Yêu cầu tuyên bố không phải quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Số nhà 250 quốc lộ N2, Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P là bà Bùi Thị Mỹ L, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 01 đường N2, ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Bà Phan Kim C, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Tổ 3, thôn L, xã K, huyện C, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, trình bày:

Ông P và bà C qua thời gian tìm hiểu đã đi đến tổ chức lễ cưới và sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2003 đến năm 2006 tại Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Ông P và bà C sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống giữa ông P và bà C có 01 người con chung là cháu Nguyễn Quốc H, sinh ngày 14/8/2004. Thời gian đầu giữa ông P và bà C chung sông hòa thuận nhưng sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng lẫn nhau. Nay ông P cảm thấy không thể tiếp tục chung sống như vợ chồng nên ông P yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông P và bà C là vợ chồng.

Về con chung: Ông P và bà C có 01 người con chung là cháu Nguyễn Quốc H, sinh ngày 14/8/2004. Hiện nay cháu H đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là bà Phan Thị Kim C đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập, thông báo đến Tòa án để tham gia phiên họp, phiên tòa nhưng bà C vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến của bà C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng nên làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị Kim C sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, nay ông P yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông P và bà C là vợ chồng nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Hiện bị đơn bà Phan Thị Kim C đang cư trú tại xã K, huyện C, tỉnh B, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Đức.

Ông Nguyễn Văn P và bà Bùi Thị Mỹ L có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Phan Thị Kim C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với ông P, bà Linh và bà C.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị Kim C tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003, không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình. Do vậy hôn nhân giưa bà C và ông P là hôn nhân không hợp pháp, không được nhà nước công nhận. Vì vậy, có cơ sở đề chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P về việc không công nhận quan hệ giữa ông P và bà C là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Ông P và bà C có 01 người con chung là cháu Nguyễn Quốc H, sinh ngày 14/8/2004. Hiện nay cháu H đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xem xét về con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn P phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị Kim C là vợ chồng.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn P phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008458, ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Ông Nguyễn Văn P đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/8/2023) các đương sự được quyền kháng cáo. Do ông P và bà C đều vắng mặt nên thời hạn này được tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết có quyền yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc.

Cỡ chữ