- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng khởi kiện ông Nguyễn Văn L"
- Tòa quyết gì? 1/ Buộc ông Nguyễn Văn L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 số tiền vốn lãi là 72.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/DS-ST Ngày: 08 - 9 - 2023. “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Anh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Thanh Chiều.
Ông Sơn Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2022/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST - DS ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần () Bưu Điện L1
Địa chỉ: Tầng A, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà T, số B Đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S, sinh năm 1967. Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Lê Duy T - Chức vụ: Chuyên viên Khách hàng Ngân hàng TMCP L1 – Phòng G (có mặt).
Địa chỉ phòng giao dịch: Số A, Đường H, ấp C, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lập ngày 28-3-2022, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Duy T trình bày:
Ông Nguyễn Văn L có vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần () Bưu Điện L1 – P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), địa chỉ tại A H, ấp C, Thị Trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, theo Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202100035, ký ngày 20-01-2021, cụ thể như sau: Số tiền vay: 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng); Thời hạn cho vay là 11 tháng; Phương thức cho vay: Hạn mức tín dụng, Kỳ hạn trả gốc: Trả cuối kỳ, Kỳ hạn trả nợ lãi: Trả định kỳ 03 lần/tháng vào ngày 20, kỳ trả lãi đầu tiên ngày 20-4-2021, Ngày trả nợ cuối cùng: 15-12-2021, Mục đích sử dụng vốn: Mua bán khô, Lãi suất cho vay: 14%/năm, Phương thức điều chỉnh lãi suất: Theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ, Lãi suất phạt quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, Tài sản thế chấp cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BQ 725890, số vào sổ cấp GCN CH01506 do UBND huyện M cấp ngày 04-06-2014 cho ông Nguyễn Văn L. Tuy nhiên, giữa Ngân hàng và người vay không ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà Ngân hàng chỉ giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L.
Quá trình thực hiện Hợp đồng ông Nguyễn Văn L đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP L1 và phía Ngân hàng cũng đã nhiều lần đến nhà đôn đốc, gửi thông báo nợ quá hạn cũng như lập biên bản làm việc nhưng ông vẫn không thanh toán nợ.
Cụ thể ông Nguyễn Văn L đã vi phạm khoản 9.2, Điều 9 tại hợp đồng tín dụng số HDTD37B202100035, ký ngày 20-01-2021. Ông L đã không thanh toán nợ từ ngày 29-9-2021, với tổng số tiền tạm tính đến ngày 08-9-2023 là 72.399.800 đồng (Bảy mươi hai triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, tám trăm đồng). Trong đó: Gốc: 50.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 3.017.583 đồng; Lãi quá hạn: 19.382.217 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn L phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến ngày 08-9-2023 (Ngày xét xử sơ thẩm) là 72.399.800 đồng (Bảy mươi hai triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, tám trăm đồng). Trong đó: Gốc: 50.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 3.017.583 đồng; Lãi quá hạn: 19.382.217 đồng và yêu cầu ông Nguyễn Văn L phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 09-9-2023 cho đến khi tất toán khoản vay theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng. Sau khi ông Nguyễn Văn L tất toán hết khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ hoàn trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ 725890, số vào sổ cấp GCN CH01506 do UBND huyện M cấp ngày 04-6-2014 cho ông Nguyễn Văn L.
Ngoài ra, người đại diện cho Ngân hàng không yêu cầu Tòa án xử lý tài sản thế chấp mà việc xử lý tài sản thế chấp Ngân hàng sẽ yêu cầu trong giai đoạn thi hành án.
- Sau khi Tòa án thụ lý vụ án có tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cùng các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện cho ông Nguyễn Văn L theo đúng địa chỉ ghi trên hợp đồng đã ký với Ngân hàng, ông L là người nhận trực tiếp nhưng ông Nguyễn Văn L không có ý kiến trình bày gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần L1.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202100035, ký ngày 20-01-2021 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 - Phòng G đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn L để vay số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Kỳ hạn trả nợ: Kỳ hạn trả gốc: Trả cuối kỳ, Kỳ hạn trả nợ lãi: Trả định kỳ 03 tháng/lần, vào ngày 20, Kỳ trả nợ đầu tiên ngày 20-4-2021. Nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Văn L vi phạm nghiêm trọng hợp đồng đã ký kết nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1.
Về nội dung vụ án: Theo Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202100035, ký ngày 20-01-2021 thể hiện ông Nguyễn Văn L có vay vốn tại Ngân hàng TMCP L1 – Phòng G, cụ thể như sau: Số tiền vốn vay: 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng); Thời hạn cho vay là 11 tháng; Phương thức cho vay: Hạn mức tín dụng, Kỳ hạn trả gốc: Trả cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: Trả định kỳ 03 lần/tháng vào ngày 20, kỳ trả lãi đầu tiên ngày 20-4-2021, Ngày trả nợ cuối cùng: 15-12-2021, Mục đích sử dụng vốn: Mua bán khô, Lãi suất cho vay: 14%/năm, Phương thức điều chỉnh lãi suất: Theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ, Lãi suất phạt quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, Tài sản thế chấp cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BQ 725890, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01506 do UBND huyện M cấp ngày 04-6-2014 cho ông Nguyễn Văn L nhưng giữa Ngân hàng và người vay không ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà Ngân hàng chỉ giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L. Trong quá trình giao dịch ông L có trả cho Ngân hàng vốn lãi theo hợp đồng tính đến ngày 29-9-2021 thì ngưng nên phát sinh lãi quá hạn từ ngày 29-9-2021 cho đến nay.
Xét thấy, ông Nguyễn Văn L đã thụ hưởng quyền lợi là nhận số tiền vay 50.000.000 đồng từ Ngân hàng, nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng theo như thỏa thuận về phương thức trả nợ quy định tại Điều 5 của hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Vì ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 29-9-2021 cho đến nay, nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L thanh toán toàn bộ số tiền vốn gốc và tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 7, khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Theo bảng kê gốc, lãi tạm tính mà Ngân hàng cung cấp thì số tiền ông Nguyễn Văn L còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 08-9-2023 (ngày xét xử sơ thẩm) số tiền là 72.399.800 đồng (bảy mươi hai triệu ba trăm chín mươi chín nghìn tám trăm đồng). Trong đó: Số tiền gốc: 50.000.000 đồng, lãi trong hạn: 3.017.583 đồng, lãi quá hạn: 19.382.217 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn lãi tính đến ngày 08-9-2023 là 72.399.800 đồng (bảy mươi hai triệu ba trăm chín mươi chín nghìn tám trăm đồng) và yêu cầu ông L phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 09-9-2023 cho đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số HDTD37B202100035, ký ngày 20-01-2021, là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP L1 thay đổi một phần nội dung khởi kiện là không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp mà việc xử lý tài sản thế chấp Ngân hàng sẽ yêu cầu trong giai đoạn thi hành án. Xét thấy, việc thay đổi một phần nội dung khởi kiện của Ngân hàng là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 244 Bộ luất Tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 không phải chịu án phí. Ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí đối với yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận là: 72.399.800 đồng x 5% = 3.619.990 đồng (Ba triệu sáu trăm mười chín nghìn chín trăm chín mươi đồng).
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 đồng ý chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 7; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Buộc ông Nguyễn Văn L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 số tiền vốn lãi là 72.399.800 đồng (bảy mươi hai triệu ba trăm chín mươi chín nghìn tám trăm đồng). Trong đó: Số tiền gốc: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), lãi trong hạn: 3.017.583 đồng (ba triệu, không trăm mười bảy nghìn, năm trăm tám mươi ba đồng), lãi quá hạn: 19.382.217 đồng (mười chín triệu, ba trăm tám mươi hai nghìn, hai trăm mười bảy đồng).
Kể từ ngày 09-9-2023 cho đến khi ông Nguyễn Văn L tất toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 thì hàng tháng ông L còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên số vốn gốc còn nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202100035, ngày 20-01-2021.
Trong trường hợp ông Nguyễn Văn L tất toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn L bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BQ 725890, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01506 do UBND huyện M cấp ngày 04-6-2014 cho ông Nguyễn Văn L.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1/ Ông Nguyễn Văn L phải chịu số tiền án phí là 3.619.990 đồng (Ba triệu, sáu trăm mười chín nghìn, chín trăm chín mươi đồng).
2.2/ Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005261, ngày 09-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
2.3/ Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 đồng ý chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). Ngân hàng Thương mại cổ phần L1 đã nộp tạm ứng đủ số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
3/ Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện Mỹ Tú; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú; - Phòng KTNV-THA TAND tỉnh ST; - Các đương sự; - Lưu HS-VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Anh Tuấn |