vanban.org

Bản án 51/2022/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 31/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
tØnh Hoµ B×nh
-------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 51/2022/HSST
Ngµy: 30/12/2022

Nh©n danh

n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Hoµ b×nh

Víi thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã :

- ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bà Bạch Thị Hồng Hoa.

- Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

- C¸c héi thÈm nh©n d©n: Ông Nguyễn Văn Cử

Ông Đinh Cộng Hòa

Bà Phan Thị Bích

- Th ký phiªn toµ: Bà Nguyễn Quỳnh Nga - Thư ký toµ ¸n.

- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tØnh Hoµ B×nh tham gia phiªn toµ: Bà Đặng Thị Phương Thảo - KiÓm s¸t viªn.

Ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2022 t¹i trô së toµ ¸n nh©n d©n tØnh Hoµ B×nh më phiªn toµ xÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè 51/2022/HSST ngµy 11/11/2022 ®èi víi các bị cáo:

1. Mùa A C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970, tại S La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 0/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Bản Suối T, xã Phú S, huyện Quan H, tỉnh Thanh Hóa. Con ông Mùa A P, sinh năm 1938 và bà Giàng Thị P (đã chết). Họ và tên vợ: Sùng Thị D, sinh năm 1972 (không đăng ký kết hôn). Có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/6/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh S La xử phạt 14 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 18/02/2019, chấp hành xong án phạt tù.

Hiện bị can Mùa A C đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quan S, tỉnh Thanh Hóa.

2. Tràng Y Ch; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02 tháng 02 năm 1976, tại: Hòa Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Nơi cư trú: Xóm Thung M, xã Hang K, huyện Mai C, tỉnh Hòa Bình.

Con ông Tràng A V (đã chết) và bà Mùa Y M, sinh năm 1946. Chồng là: Sùng A H, sinh năm 1974. Có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 25/02/2022 đến nay.

3. Bùi Văn S;

Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 20 tháng 01 năm 2000, tại: Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Bản Bùi Văn S, tỉnh Thanh Hóa. Con ông Bùi Văn Q và bà Phạm Thị D ( đều đã chết); Vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 25/02/2022 đến nay.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Mùa A C: Ông Nguyễn Văn D – Luật sư văn phòng luật sư Nguyễn Văn D, thuộc đoàn luật sư tỉnh Hòa Bình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Tràng Y Ch: Bà Lê Thị Hải T – Luật sư thuộc văn phòng luật sư Lê Thị Hải T, thuộc đoàn luật sư tỉnh Hòa Bình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Văn S: Bà Nguyễn Bích N, luật sư văn phòng luật sư Nguyễn Bích N, thuộc đoàn luật sư tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Sáng 24/02/2022, Bùi Văn S, trú tại bản Tai G, xã Phú S, huyện Quan H, tỉnh Thanh Hóa đến nhà Mùa A C, trú tại Bản Suối T, xã Phú S, huyện Quan H, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, C nói với S: Có biết ai mua ma túy thì bán hộ C, bán được C sẽ cho S ít tiền. S đồng ý và gọi điện thoại cho người đàn ông tên Tiến ở Đống Đa - Hà Nội. Tiến bảo cứ mang ma túy xuống giao cho Tiến. Sau đó, C rủ S lên nhà Tràng Y Ch, trú tại xóm Thung M, xã Hang K, huyện Mai C, tỉnh Hòa Bình là người yêu của C để lấy ma túy, S đồng ý.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, S và C đi đến nhà Ch thì gặp Ch đang ở nhà một mình, trong lúc cả ba người cùng ngồi ăn cơm C bảo Ch xem có quen ai bán ma túy thì hỏi mua 02 (hai) cây Heroine và 03 (ba) túi hồng phiến, còn S liên lạc với người mua ma túy ở Hà Nội để thống nhất giá cả, địa điểm giao, nhận ma túy, sau khi bán được ma túy thì sẽ chia nhau tiền lãi. Ch nói có một người phụ nữ Quốc tịch Lào đã cho Ch số điện thoại và bảo nếu cần mua ma túy thì gọi điện cho người đó. Ch gọi điện thoại cho người phụ nữ bán ma túy, người này đồng ý bán số ma túy trên với số tiền 12.000.000đ, ngoài ra nếu giao dịch mua bán ma túy thành công thì sẽ cho riêng Ch số tiền 5.500.000đ. Ch nói khi nào bán được ma túy sẽ trả tiền sau, người bán ma túy đồng ý. Rạng sáng ngày 25/02/2022 sẽ gặp nhau tại khu vực bìa rừng thuộc địa phận xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình để giao ma túy. Sau khi trao đ i mua bán ma túy xong Ch nói lại việc thỏa thuận mua bán ma túy trên với C và S.

S gọi điện thoại cho Tiến ở Đống Đa - Hà Nội đặt vấn đề bán số ma túy trên với số tiền 60.000.000 đồng. Tiến đồng ý và hẹn S sáng ngày hôm sau đem ma túy xuống Hà Nội thì gọi điện thoại để Tiến ra nhận ma túy và trả tiền.

Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 25/02/2022, Ch điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 28M1-115.49 đến bìa rừng thuộc địa phận xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Tại đây, người phụ nữ bán ma túy đưa cho Ch một túi nilon màu đen bên trong có ma túy. Ch cầm túi ma túy và điều khiển xe môtô về nhà. Khi về đến nhà Ch thấy C và S đang đứng ở cửa. C bảo với Ch đưa ma túy cho S cầm, Ch điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 28M1-115.49 chở S đi Hà Nội bán ma túy, còn C ở nhà chờ. S cầm túi ma túy cho vào túi áo khoác S đang mặc, rồi cùng Ch đi xuống Hà Nội để bán ma túy cho Tiến. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/02/2022 khi Ch và S đi đến khu 2, thị trấn Cao Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình thì bị bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 56/KLGĐ-KTHS ngày 01 tháng 4 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận:

- Chất dạng các viên nén trong 03 túi ni lông ký hiệu 01, 02, 03 trong phong bì niêm phong gửi giám định có t ng khối lượng 39,2g (ba mươi chín ph y hai gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

- Chất bột dạng cục màu trắng trong 02 túi ni lông màu trắng ký hiệu 04, 05 trong phong bì niêm phong gửi giám định có t ng khối lượng 77,4g (bảy mươi bảy ph y bốn gam), là ma túy, loại Heroine.

Vật chứng thu giữ:

- Số ma túy còn lại sau khi khi giám định.

- Thu giữ của Tràng Y Ch:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, bên trong có 01 (một) sim Viettel.

01 (một) điện thoại di động, mặt sau có chữ realme màu xanh, bên trong có 01 (một) sim Viettel.

01 (một) giấy phép lái xe số 171102000813 mang tên Tràng Y Ch.

01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007939 mang tên Tràng Y Ch.

+ 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số 2121050082171 mang tên Tràng Y Ch.

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 28M1-115.49, chủ xe là Tràng Y Ch.

- Thu giữ của Bùi Văn S: 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ coolpad, bên trong có 01 (một) sim Viettel.

Cáo trạng số 72/CT – VKS – P1 ngày 10/11/2022 của VKSND tỉnh Hòa Bình truy tố Mùa A C, Tràng Y Ch và Bùi Văn S về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; 38; 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Mùa A C 20 năm tù; Bị cáo Tràng Y Ch, Bùi Văn S từ 18 đến 19 năm tù đều về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt b sung đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư Nguyễn Văn D bào chữa cho bị cáo Mùa A C trình bày bản bào chữa: Nhất trí với việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo C về tội danh mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên việc cáo trạng xác định bị cáo C là người chủ mưu, cầm đầu vụ án là không chính xác mà vai trò của bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức. Bị cáo Ch mới là đầu vụ, Ch biết người bán ma túy và trực tiếp đi lấy ma túy về để đi bán. Bị cáo C thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; Trình độ văn hóa thấp (0/12); Là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế; số ma túy các bị cáo mua bán bị bắt quả tang, chưa bị phát tán. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát và không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Luật sư Lê Thị Hải T trình bày bản bào chữa cho bị cáo Tràng Y Ch: Nhất trí với việc truy tố của cáo trạng. Bị cáo Ch đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải. Tham gia vai trò thứ yếu trong vụ án, là người dân tộc thiểu số, không được đi học, hiểu biết pháp luật hạn chế. Một mình nuôi năm con. Có bác ruột, chú ruột là ông Tràng A L được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; Ông Chàng A D; ông Sùng A K được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Là những người có công với cách mạng. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

Luật sư Nguyễn Bích N trình bày bản bào chữa cho bị cáo Bùi Văn S: Bị cáo S tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm, do bị rủ rê lôi kéo. Bị cáo tu i đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình thuộc hộ nghèo của địa phương. Đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải với hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của VKS.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø, tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn tµi liÖu, chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o, người có quyền lợi liên quan đến vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1. Về tố tụng: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình trong quá trình tiến hành tố tụng, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, của kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

2. Về nội dung:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện cụ thể: Sáng ngày 24/02/2022 Mùa A C chủ động rủ Bùi Văn S (đều trú tại Quan H, Thanh Hóa) đến nhà Tràng Y Ch ở Hang K, Mai C, Hòa Bình bàn bạc về việc mua 02 cây Heroin và 03 túi hồng phiến về đem bán để kiếm lời chia nhau. S tìm người mua ma túy có tên là T ở Hà Nội thỏa thuận việc bán 02 cây Heroin và 03 túi hồng phiến với giá 60.000.000đ; Tràng Y Ch liên lạc với người phụ nữ Lào để mua ma túy. 04h sáng 25/2/2022 người phụ nữ đó giao ma túy cho Ch, thỏa thuận giá 12.000.000đ, khi nào bán được ma túy sẽ thanh toán tiền. Sau khi nhận được ma túy đó đem về nhà Ch thì C phân công, Ch chở S bằng xe mô tô biển kiểm soát 28M1 – 115.49 đi từ Hang k, Mai C xuống Hà Nội để bán, khi đi đến khu 2, thị trấn Cao P, Hòa Bình thì bị Công an bắt quả tang số ma túy đang giấu trong túi áo khoác của S. Còn C đợi ở nhà Ch nhưng không thấy S và Ch về nên đã tự đi về nhà ở Quan S, Thanh Hóa. Khi biết tin S và Ch bị bắt đã trốn lên rừng. Đến ngày 10/8/2022 bị bắt về hành vi mua bán trái phép chấtt ma túy.

Tại Kết luận giám định số 56/KLGĐ-KTHS ngày 01 tháng 4 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: T ng khối lượng ma túy là 116,6g. Gồm: 39,2g Methamphetamine và 77,4g Heroine.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Mùa A C, Tràng Y Ch, Bùi Văn S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo đều là những thanh niên trẻ khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng do coi thường pháp luật, thiếu tu dưỡng rèn luyện, hám lời nên đã dẫn thân vào con đường phạm tội. Cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.

Trong vụ án này bị cáo C là chủ mưu là người khởi xướng việc đi mua ma túy mục đích về bán để kiếm lời. Trực tiếp rủ S đi đến nhà Ch để bàn bạc việc mua số lượng ma túy, bảo S liên lạc với người mua ma túy, hẹn địa điểm giao ma túy và tiềm bán ma túy. Trực tiếp bảo Ch liên lạc với người bán ma túy để mua ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu; ngày 17/6/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh S La xử phạt 14 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 18/02/2019 chấp hành xong hình phạt. Tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó là bài học về việc chấp hành luật pháp mà tiếp tục phạm tội. Có căn cứ để chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát xác định bị cáo là kẻ chủ mưu, cầm đầu vụ án, ý kiến của người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức là không có cơ sở chấp nhận.

Bị cáo Tràng Y Ch là đồng phạm trong vụ án, bằng việc tiếp nhận ý chí từ bị cáo C, bị cáo đã trực tiếp liên lạc để mua ma túy, thỏa thuận giá cả khi mua; trực tiếp dùng xe mô tô chở bị cáo S đi bán ma túy.

Bị cáo Bùi Văn S cũng là đồng phạm trong vụ án. S đã trực tiếp liên lạc với đối tượng mua ma túy, thỏa thuận giá bán ma túy, địa điểm giao ma túy và trực tiếp cùng với bị cáo Ch đem ma túy đi bán thì bị bắt.

Xét các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng; đều có tình tiết giảm nhẹ: Khai báo thành kh n và ăn năn hối cải; Là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo khi lượng hình.

Với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và vai trò của các bị cáo trong vụ án, cần xử phạt bị cáo C mức hình phạt cao nhất so với đồng bọn; bị cáo Ch, bị cáo S tham gia đồng phạm, vai trò thứ yếu, cần xử phạt mức hình phạt thấp hơn bị cáo C, tương xứng với hành vi các bị cáo đã thực hiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về vật chứng cña vô ¸n:

- Toàn bộ số ma túy đã thu giữ là vật cấm lưu hành cần tịch thu xuất hủy.

- 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ coolpad bên trong có một sim Viettel đã qua sử dụng, bị cáo S dùng để liên lạc mua bán ma túy, là phương tiện phạm tội, cần tịch thu phát sung quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động NOKIA màu đen, bên trong có một sim Viettel; 01 điện thoại di động mặt sau có chữ realme màu xanh bên trong có một sim Viettel đều của bị cáo Ch sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, là phương tiện phạm tội, cần tịch thu phát sung quỹ Nhà nước.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007939; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô – xe máy số 2121050082171 đều mang tên Tràng A Ch và 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, gắn biển kiểm soát 28M1 – 115.49 màu S xanh, đen, là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước.

- 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên: Tràng Y Ch, số: 171102000813 do công an tỉnh Hòa Bình cấp là tài sản cá nhân của bị cáo, cần trả cho bị cáo.

* Đối với người bán ma túy quốc tịch Lào và người mua ma túy có tên T theo lời khai của các bị cáo. Các bị cáo đều không biết địa chỉ cụ thể, nhân thân lai lịch, ngoài lời khai của các bị cáo thì không có chứng cứ nào khác. Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Các bị c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

V× c¸c lÏ trªn.

QuyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố các bị c¸o Mùa A C, Tràng Y Ch, Bùi Văn S ph¹m téi “ Mua bán tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A C 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án.

Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Tràng Y Ch 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2022.

-Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự:

* TÞch thu xuất hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ đựng trong:

01 (một) hộp niêm phong dán kín, một mặt đề chữ: " Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Tràng Y Ch và Bùi Văn S – có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 25/02/2022 tại thị trấn Cao Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. 03 mẫu ma túy, loại Methamphetamine ( 01: 10,22g; 02: 5,51g; 03: 17,51g); 02 mẫu ma túy, loại Heroin ( 04: 35,05g; 05:35,87g). Tại mép dán có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình (dấu mờ nhòe không rõ nét).

* Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước:

- 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ coolpad bên trong có 01 sim Viettel. Điện thoại đã cũ chày xước và qua sử dụng không tiến hành kiểm tra tình trạng chi tiết bên trong.

- 01 điện thoại di động NOKIA màu đen, bên trong có 01 sim Viettel.Điện thoại đã cũ chày xước và qua sử dụng không tiến hành kiểm tra tình trạng chi tiết bên trong; 01 điện thoại di động mặt sau có chữ realme màu xanh bên trong có một sim Viettel. Điện thoại đã cũ chày xước màn hình đã bị ố nứt và qua sử dụng không tiến hành kiểm tra tình trạng chi tiết bên trong.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007939 mang tên Tràng Y Ch; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô – xe máy số 2121050082171 mang tên Tràng A Ch và 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, gắn biển kiểm soát 28M1 – 115.49 màu S xanh, đen. Phần máy có số: JA52E-0052997; Phần khung xe có số: RLHJA 3854 KY 021148, đầu xe đã bị nứt vỡ. Xe đã cũ chày xước và qua sử dụng không tiến hành kiểm tra các bộ phận chi tiết xe.

* Trả cho bị cáo Tràng Y Ch 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên: Tràng Y Ch, số: 171102000813 do công an tỉnh Hòa Bình cấp.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 05/BB- GNVC ngày 18/11/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hoà Bình và Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Hoà Bình).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14: Bị cáo Mùa A C, Tràng Y Ch, Bùi Văn S m i người phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ th m.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. N¬i nhËn:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- - TAND cấp cao tại Hà Nội;

Cỡ chữ