vanban.org

Bản án 51/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/HS-ST
Ngày 18 – 5 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Vạn Phái, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2022/TLST-HS, ngày 18 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN H, tên gọi khác: Không; Sinh năm 198x, tại: TN.

Nơi cư trú: Xóm HV 3, xã VP, thành phố PY, tỉnh TN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Văn P; con bà: Nguyễn Thị H1; Có vợ là Trần Thị N, sinh năm 198x, vợ chồng có 01 con chung sinh năm 2010.

- Tiền án: 01 - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2020/HS-ST ngày 04/02/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã xử phạt Nguyễn Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. (Nguyễn Văn H chấp hành xong bản án ngày 12/01/2021 nhưng chưa được xóa án tích). Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”.

- Tiền sự: 01 – Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009026/QĐ-XPVPHC ngày 24/3/2020 của Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H bằng hình thức “Phạt tiền” số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Bị cáo chưa nộp tiền phạt)

- Nhân thân:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2010/HSST ngày 30/9/2010 của Toà án nhân dân thị xã (Nay là thành phố) Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản” (Bị cáo đã chấp hành xong bản án này và được xóa án tích theo quy định).

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2015/HSST ngày 18/8/2015 của Toà án nhân dân thị xã (Nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bị cáo đã chấp hành xong bản án này và được xóa án tích theo quy định).

+ Tại Quyết định số 16906 ngày 31/12/2013 bị UBND huyện Phổ Yên (Nay là thành phố Phổ Yên), tỉnh Thái Nguyên đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời hạn 12 (Mười hai) tháng.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/01/2022, đến ngày 16/01/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo:

1. Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh TN (Có mặt).

- Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 197x (Vắng mặt).

Nơi cư trú: TDP Đ 1, phường ĐS, thành phố PY, TN.

2. Ông Bùi Văn D1, sinh năm 196x (Vắng mặt).

Nơi cư trú: TDP Đ 1, phường ĐS, thành phố PY, TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 30 phút ngày 07/01/2022, Tổ công tác Công an xã ĐS, thị xã PY (nay là phường ĐS, thành phố PY), tỉnh TN làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm Ch, xã ĐS, thị xã PY thì phát hiện có đối tượng là nam giới có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra thì đối tượng khai nhận là Nguyễn Văn H. Quá trình kiểm tra, Ho tự nguyện giao nộp từ trong tay trái 02 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục, theo H khai nhận toàn bộ số chất rắn màu trắng đục trên là chất ma túy loại Heroine của H mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng thu giữ của H rồi bàn giao đối tượng, hồ sơ cùng vật chứng tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) PY để giải quyết theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã PY phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh TN tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng toàn bộ số chất rắn màu trắng đục thu giữ của Nguyễn Văn H được 0,174 gam, sau đó lấy toàn bộ số chất rắn màu trắng đục cho vào phong bì ký hiệu M gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 193/KL-KTHS ngày 15/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là chất ma tuý loại Heroine, có khối lượng 0,174 gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 07/01/2022, H đi nhờ xe của người đi đường từ nhà đến khu vực xóm KT, xã TT, PY để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến xóm KT, H xuống xe và đi bộ đến một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín phía bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng TN – HN. H cầm số tiền 200.000 đồng đưa qua khe cửa sắt dưới nền bê tông vào bên trong ngôi nhà, thì có người cầm tiền của H rồi đưa qua khe cửa đó cho H 02 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma tuý. Sau đó, H đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm Ch, ĐS, PY để sử dụng ma tuý, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện và kiểm tra như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M bên trong có 0,159 gam ma tuý loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong đựng vỏ bao mẫu lưu kho, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) PY chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSPY, ngày 14/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PY, tỉnh TN đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PY thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số: 54/CT-VKSPY, ngày 14/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PY, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu M bên trong có 0,159 gam ma tuý loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong đựng vỏ bao mẫu lưu kho.

Ngoài ra, còn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ cận nghèo và bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị về hình phạt bổ sung và án phí. Tuy nhiên người bào chữa cho bị cáo cho rằng mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là cao so với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị xem xét hoàn cảnh, điều kiện bị cáo hiện nay xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo mau chóng trở về với xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt mức án từ 18 - 24 tháng tù.

Đại diện viện kiểm sát đối đáp cho rằng: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý hành chính cũng như kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo ra trại ngày 12/01/2021 nhưng không chịu tu dưỡng, từ bỏ con đường ma úy thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém của bị cáo. Vì vậy mức án Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa từ 24 - 30 tháng là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị.

Trong phần tranh luận, bị cáo không bổ sung ý kiến của người bào chữa và không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố PY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố PY, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố PY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố PY, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 07/01/2022, tại khu vực xóm Chi, xã ĐS, thị xã PPY (nay là phường ĐS, thành phố PY), tỉnh TN; Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,174 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã ĐS, thị xã PY bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó, Bản cáo trạng số 54/CT-VKSPY, ngày 14/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PY đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:....

c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã sớm mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

- Về nhân thân: Qua phân tích các yếu tố về nhân thân người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: Nguyễn Văn H sinh ra và lớn lên tại PY, tỉnh TN, từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 09/12, sau đó nghỉ học ở nhà, làm ruộng tại địa phương. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã nhiều lần bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2020/HS-ST ngày 04/02/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã xử phạt Nguyễn Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009026/QĐ-XPVPHC ngày 24/03/2020 của Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H bằng hình thức “Phạt tiền” số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2010/HSST ngày 30/9/2010 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2015/HSST ngày 18/8/2015 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Quyết định số 16906 ngày 31/12/2013 bị UBND huyện Phổ Yên (Nay là thành phố Phổ Yên), tỉnh Thái Nguyên đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời hạn 12 (Mười hai) tháng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân rất xấu.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 (Một) tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là “Tái phạm” bởi lẽ: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2020/HS-ST ngày 04/02/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã xử phạt Nguyễn Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo H chấp hành xong hình phạt của bản án này ngày 12/01/2021, sau khi chấp hành xong hình phạt chưa hết thời hạn được coi là xóa án tích mà bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự thì bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc vào trường hợp “Tái phạm”.

. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng là chưa phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm bào chữa của người bào chữa đưa ra tại phiên tòa hôm nay.

. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:

“…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”

Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 (Một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M ghi hoàn trả 0,159 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu M; 01 (Một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho – Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Về các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này, Nguyễn Văn H khai về nguồn gốc số Heroine thu giữ của H là do H mua tại ngôi nhà có cửa sắt đóng kín phía bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng TN - HN thuộc xóm KT, xã TT, PY. Khi mua số ma túy này, H không xác định được chủ ngôi ngà và người bán ma tuý cho H là ai. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý saulà phù hợp, có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

2.1 Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2022.

2.2 Về Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn H.

- Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M ghi hoàn trả 0,159 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu M; 01 (Một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho;

Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố PY) với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố PY ngày 22/4/2022.

4. Về Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Hải Nguyễn Thị Thanh

Nguyễn Hải Chiều

Cỡ chữ