- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T và đồng bọn phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T, bị cáo Trần Quang V phạm tội "Mua bán trái phép ch t ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2022/HS - ST Ngày: 23-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bạn
Bà Vũ Thị Linh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Phú - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức, ông Nguyễn Đình Doanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58A/2022/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Anh T - sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu dân cư N 2, phư ng S, thành phố C, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học v n: 12/12; Con ông: Nguyễn Xuân B và con bà: Mạc Thị Đ; ia đình có chị em, bị cáo là con thứ sáu; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số 20 /200 /HSST ngày 12/11/200 c a Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh H xử phạt 2 tháng t về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị can đ ch p hành xong hình phạt t ngày 0 / /2010, thi hành án dân sự ngày 16/2/2009.
- Bản án số 20/2011/HSST ngày 2 /0 /2011 c a Tòa án nhân dân thị x C, tỉnh H xử phạt tháng t về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị can đ ch p hành xong hình phạt t ngày 0 / /201 , thi hành án dân sự ngày 08/02/2012.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 2 / /2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, đến ngày 0 /12/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh. Vắng mặt(có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Họ và tên: Trần Quang V - sinh năm 1 0; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu dân cư 2, phư ng S, thành phố C, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học v n: 12/12; Con ông: Trần C và con bà: Nguyễn Thị L; Có vợ: Nguyễn Thị H; Bị cáo có 1 con, sinh năm 2001; Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0 ngày 1/12/200 c a Công an huyện C về hành vi: "Sử dụng trái phép ch t ma tuý", ngày 06/01/2010, V ch p hành xong.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1 ngày 0 / /201 c a Công an thị xã C về hành vi: "Tàng trữ trái phép ch t ma tuý", ngày 16/4/2018, Việt ch p hành xong.
Bị cá bị bắt tạm giam từ ngày 2 /02/202 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt.
* Ngư i bào chữa cho bị cáo V: Bà Nguyễn Thị Thu H- Trợ giúp viên pháp lý trung tâm t tỉnh H. Có mặt.
* Những ngư i làm chứng
1. Anh Nguyễn Văn Q. Vắng mặt;
2. Anh Mạc Văn H. Vắng mặt;
. Anh Vũ Đức T. Vắng mặt.
. Anh Nguyễn Huy S. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27 tháng năm 2021, Nguyễn Anh T là ngư i nghiện ma tuý đi xe bus từ nhà đến khu vực cầu B thuộc huyện Q, tỉnh B để mua ma tuý sử dụng cho bản thân và bán kiếm l i. T gặp và mua 00.000 đồng tiền ma tuý c a một ngư i đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 0 gói gi y màu trắng, bên trong đều chứa ma tuý loại heroin. Sau khi mua được ma túy, T đi về đến khu dân cư T thì gặp Trần Quang V (ngư i c ng uống thuốc Methadone với T). Lúc này, T bảo V: “Em có mấy cái hàng, ai lấy thì điện hộ em” (ý T bảo có m y gói ma túy cần bán, V biết ai có nhu cầu mua thì điện thoại cho T), V trả l i: “ừ, để mai anh lên, xem ai lấy thì anh điện”.
Đến khoảng 0 gi 00 phút, ngày 2 tháng năm 2021, Trần Quang V Nguyễn Văn Q, Vũ Đức T, Mạc Văn H ngồi ch để vào uống thuốc Methadone. Tại đây, Quí bảo V: “lấy hộ tôi cái” (ý là mua hộ Q 01 gói ma tuý), V đồng ý. Q đưa cho V 200.000 đồng để mua ma túy. H ngồi cạnh cũng đưa cho V 200.000 đồng nh V mua ma túy hộ. Khi đó, T nói với S “chú có tiền không, anh em mình chung một cái” (ý T bảo S góp tiền mua một gói ma túy về c ng nhau sử dụng), S trả l i: “có”. Sau đó, T vay c a H 100.000đồng rồi đưa cho S. S bảo V: “lấy cho anh một cái”, V trả l i: “giờ gọi đây”. S l y trong túi ra đưa cho V 100.000 đồng c a T, rồi định đưa tiếp 100.000 đồng tiền c a S thì V bảo S “cầm tiền đây, em gọi điện”. V đưa cho S 500.000đồng rồi sử dụng chiếc điện thoại di động, nh n hiệu Nokia”, màu đen, lắp thẻ sim số: 0 . . gọi điện thoại đến số 0 .22 . 0 c a T bảo “để cho ba cái, S nó đợi ở Quảng Trường đấy”(ý V bảo T bán cho 03 gói ma tuý và S là ngư i đi ra Quảng Trư ng để l y ma tuý), T đồng ý và trả l i: “vâng”. (T hiểu ý V bảo T bán 0 gói ma túy, loại Heroine cho một số ngư i, cụ thể là ai thì T không biết). Lúc này, V bảo S: “đi ra quảng trường gặp T” (S hiểu ý V bảo S đi đến quảng trư ng Sao Đỏ để gặp T l y ma túy). Sau đó, S điều khiển chiếc xe máy nh n hiệu: HONDA, màu: Trắng, loại: VISION, biển số: C1 – 236.80 (xe c a chị Hoàng Thị Trung K, sinh năm 1 , trú tại: khu dân cư Đ, phư ng H, thành phố C. Chị K không biết S d ng xe đi mua ma tuý) đi từ quán nước đến quảng trư ng S. S đứng đợi một lúc thì T đi ra, Sang đưa cho T 00.000 đồng, T cầm tiền rồi đưa cho S 03 gói gi y, màu trắng, bên trong chứa ch t bột màu trắng là ma túy. Mua được ma túy, S cầm trong lòng bàn tay rồi đi về quán nước. Tại đây, S chìa tay ra và bảo: “của ai người đấy lấy” (ý S bảo ai đưa tiền cho V để mua ma túy thì l y). Q, H mỗi ngư i l y 01 gói ma túy, S cầm một gói ma túy c ng T sử dụng hết.
Mua được ma túy, Nguyễn Văn Q đi đến khu vực đồi H thuộc khu dân cư T, phư ng S, thành phố C, tỉnh H để sử dụng. Khi Q vừa sử dụng xong số ma túy trên thì bị Công an thành phố C kiểm tra, phát hiện về hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản thu giữ trong lòng bàn tay trái Nguyễn Văn Q: 01 (một) mảnh gi y, màu trắng, kích thước ( , x ,2)cm một mặt bám dính ch t bột màu trắng là ma túy.
Tiến hành khám xét khẩn c p chỗ ở c a Nguyễn Anh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C đ thu giữ: 01 điện thoại di động, nh n hiệu OPPO”, màu đen, trong lắp thẻ sim số: 0 .22 . 0 ; 01 chiếc ví, màu đen, bên ngoài có chữ CARTELO”, bên trong chứa số tiền 00.000đồng c a Tu n bán ma túy mà có. Thu giữ c a Trần Quang V 01 điện thoại di động, nh n hiệu Nokia”, màu đen, trong lắp thẻ sim số: 0 . . ; 01 chiếc xe máy, màu trắng, loại: VISION, nh n hiệu: HONDA, biển kiểm soát: C1 – 2 . 0 c a S sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 22/KL Đ-PC0 ngày 0/ /2021 c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H xác định: Mẫu ch t bột màu trắng bám dính trên mảnh gi y màu trắng, kích thước ( , x ,2)cm thu giữ c a Nguyễn Văn Q là ma túy, loại: Heroine. Do lượng mẫu bám dính trên mặt c a mảnh gi y r t ít nên không xác định được khối lượng
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS-CL ngày 21 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh H đ truy tố bị cáo Nguyễn Anh T và Trần Quang V về tội Mua bán trái phép ch t ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS.
Tại phiên toà:
Bị cáo T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo V đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng c a Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính ch t, mức độ phạm tội c a các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh T, Trần Quang V phạm tội Mua bán trái phép ch t ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; Điều ; Điều 1 ; điểm s khoản 1 Điều 1 BLHS đối với bị cáo T. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; Điều ; Điều 1 ; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 1 BLHS đối với bị cáo V. Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản Điều 10 ; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí số /201 /QH 1 ngày 2 tháng 11 năm 201 và Nghị quyết 2 /201 /UBTVQHH 1 ngày 0/12/201 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ năm tháng đến năm 3 tháng tù, được trừ đi th i gian bị cáo tạm giam 4 tháng 8 ngày, bị cáo còn phải ch p hành7 năm tháng 22 ngày đến năm 11 tháng 22 ngày, th i hạn t tính từ ngày thi hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Quang V từ năm tháng đến năm tháng, th i hạn ch p hành hình phạt t tính từ ngày bắt tạm giam 2 /02/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: số 22/KL Đ-PC0 , cơ quan CSĐT-CATP Chí Linh, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 1 ngày 2 / /2021, mặt sau có d u đỏ giáp lai c a Phòng k Công an tỉnh H và chữ ký niêm phong mẫu, bên trong đựng 01 mảnh gi y màu trắng loại kẻ ngang và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu, bên trong đựng 01 mảnh gi y màu trắng loại kẻ ngang và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau ghi chữ OPPO”, số IMEI 1
00 0
, số IMEI 2
00 0 2, bên trong lắp sim số 0 22 0 , số seri sim
0 0000
0, tình trạng máy điện thoại máy điện thoại và sim đ qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước và mặt sau ghi chữ NOKIA”, số IMEI 1
, số IMEI 2
10
, bên trong lắp sim số 0
, số seri sim 898404 0000 10 2 , tình trạng máy và sim đ qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ số tiền 00.000đồng. Trả lại cho bị cáo T 01 ví màu đen, bên ngoài có chữ CARTELO”, tình trạng ví đ qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Quang V được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
L i khai c a bị cáo Trần Quang V tại phiên tòa ph hợp với l i khai c a bị cáo và bị cáo Nguyễn Anh T trong quá trình điều tra, ph hợp với l i khai ngư i làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đ cơ sở kết luận: Khoảng 0 gi sáng ngày 2 / /2021, tại khu dân cư T 1, phư ng S, thành phố C, tỉnh H, khi th y Nguyễn Văn Q, Vũ Đức T, Mạc Văn H và Nguyễn Huy S nh V mua hộ ma tuý. V đồng ý nên đ gọi điện thoại cho Nguyễn Anh T để Tu n bán ma tuý, đồng th i bảo Nguyễn Huy S đến quảng trư ng S thuộc khu dân cư T, phư ng S để gặp Nguyễn Anh T l y 0 gói ma tuý, loại heroin và trả số tiền 00.000 đồng. Đến 0 gi 0 phút ngày 28/ /2021 tại khu vực đồi H thuộc khu dân cư T, phư ng S, thành phố C, tỉnh H, khi Nguyễn Văn Q vừa sử dụng trái phép ch t ma tuý xong thì bị Lực lượng Công an thành phố C phát hiện và bắt giữ. Bị cáo T, bị cáo V đ bán ma tuý cho Q, T, H, S là bán ma tuý cho hai ngư i trở lên. Do đó đ căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Nguyễn Anh T, Trần Quang V về tội Mua bán trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội c a các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý c a Nhà nước về ch t ma túy. Các bị cáo là ngư i có đ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi c a mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý mua ma túy về để bán nhằm mục đích kiếm l i. Trong vụ án, các bị cáo đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Anh T giữ vai trò chính, vì mục đích kiếm l i nên đi mua ma túy về c t gi u và thực hiện hành vi bán mua bán ma túy b t hợp pháp. Bị cáo Trần Quang V d chưa được hưởng lợi từ việc bán ma tuý nhưng khi được bị cáo T nh bán hộ, bị cáo Việt đ đồng ý, ch động liên lạc giao dịch mua bán ma tuý giữa bị cáo T và những đối tượng Q, T, H, S. Do đó, bị cáo V giữ vai trò là ngư i giúp sức. Vì vậy, khi áp dụng hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và tính ch t hành vi c a từng bị cáo như sau: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T, bị cáo V đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội c a mình nên các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 1 BLHS. Bị cáo V có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 1 BLHS. Bị cáo T, bị cáo V không có tiền án, tiền sự nhưng đều có nhân thân x u. Bị cáo T đ từng phải đi ch p hành án tại Trại giam, bị cáo V từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi liên quan ma tuý nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động mà lại thực hiện hành vi mua bán ch t ma tuý nên cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng, cách ly các bị cáo khỏi x hội một th i gian mới đ điều kiện để rèn luyện các bị cáo trở thành ngư i có ích, đồng th i răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là ngư i nghiện ma túy, không có thu nhập, không có tài sản riêng. Bị cáo T được hưởng lợi từ việc bán ma tuý nhưng hiện bị HIV giai đoạn cuối, bị cáo V là hộ cận nghèo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy HONDA, màu: Trắng, loại: VISION, biển số: C1 – 236.80 (xe c a chị Hoàng Thị Trung K, sinh năm 1 , trú tại: khu dân cư Đ, phư ng H, thành phố C. Chị K không biết S sử dụng xe vào mục đích đi mua ma tuý nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố C đ trả lại cho chị K là ph hợp. Đối với 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: số 22/KL Đ-PC0 , cơ quan CSĐT-CATP C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 1 ngày 2 / /2021, mặt sau có d u đỏ giáp lai c a Phòng k Công an tỉnh H và chữ ký niêm phong mẫu, bên trong đựng 01 mảnh gi y màu trắng loại kẻ ngang và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu, bên trong đựng 01 mảnh gi y màu trắng loại kẻ ngang và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được nên bị tịch thu và tiêu huỷ. Đối với 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau ghi chữ OPPO”, số IMEI 1
00 0
, số IMEI 2
00 0 2, bên trong lắp sim số 0 22 0 , số seri sim
0 0000
0, tình trạng máy điện thoại máy điện thoại và sim đ qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước và mặt sau ghi chữ NOKIA”, số IMEI 1
10
, số IMEI 2 35769 10
, bên trong lắp sim số 0
, số seri sim
0 0000 10 2 , tình trạng máy và sim đ qua sử dụng; số tiền 00.000đồng là công cụ, phương tiện d ng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 ví màu đen, bên ngoài có chữ CARTELO”, tình trạng ví đ qua sử dụng c a bị cáo Nguyễn Anh T là tài sản không phải vật chứng nên cần trả lại cho bị cáo T là ph hợp với các điểm a, b khoản 1 Điều BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản Điều 10 BLTTHS
Trong vụ án, đối với Nguyễn Huy S là ngư i nghiện ch t ma túy, ngoài mục đích mua 01 tép Heroine để c ng sử dụng với T, còn trực tiếp giao dịch mua hộ 02 tép Heroine cho H, Q. Tuy nhiên, S không có thỏa thuận gì từ trước và không liên lạc với T về việc mua bán ch t ma túy. Đối với hành vi này c a đối tượng S, Hội đồng xét xử đ tiến hành trả hồ sơ theo quyết định trả hồ sơ số 02 ngày 19/5/2022. Đối với hành vi Tàng trữ trái phép ch t ma túy” c a Nguyễn Huy S, vận dụng quy định tại điểm . mục II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 2 /12/200 thì Nguyễn Huy S phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng ch t ma túy đ mua cho bản thân và mua hộ. Tuy nhiên, S, T, Q, H đ sử dụng hết số ma túy mua được, không xác định được khối lượng ch t ma túy S mua nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Nguyễn Huy S.
Đối với các hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy c a Nguyễn Văn Q, Mạc Văn H, Vũ Đức T, Nguyễn Huy S: ngày 19/01/2022, Công an thành phố C đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là ph hợp.
Đối với ngư i đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Anh T không xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố C không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo T, bị cáo V bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo V là hộ cận nghèo nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 1 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Anh T;
Căn cứ c khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 17; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Trần Quang V;
Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản Điều 10 ; khoản 2 Điều 1 , khoản 2 Điều 1 c a BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 201 ; Nghị quyết số 2 /201 /UBTVQH 1 ngày 30-12-201 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T, bị cáo Trần Quang V phạm tội "Mua bán trái phép ch t ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T năm tù, được trừ đi th i gian bị cáo tạm giam 4 tháng 8 ngày, bị cáo còn phải ch p hành năm tháng 22 ngày, th i hạn t tính từ ngày thi hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Quang V từ năm tháng t , th i hạn ch p hành hình phạt t tính từ ngày tạm giam 2 /02/2022.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: số 22/KL Đ-PC0 , cơ quan CSĐT-CATP C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 1 ngày 2 / /2021, mặt sau có d u đỏ giáp lai c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H và chữ ký niêm phong mẫu, bên trong đựng 01 mảnh gi y màu trắng loại kẻ ngang và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu, bên trong đựng 01 mảnh gi y màu trắng loại kẻ ngang và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau ghi chữ OPPO”, số IMEI 1
00 0
, số IMEI 2
00 0 2, bên trong lắp sim số 0 22 0 , số seri sim
0 0000
0, tình trạng máy điện thoại máy điện thoại và sim đ qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước và mặt sau ghi chữ NOKIA”, số IMEI 1
10
, số IMEI 2
10
, bên trong lắp sim số 0
, số seri sim
0 0000 10 2 , tình trạng máy và sim đ qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ số tiền 00.000đồng. Trả lại cho bị cáo T 01 ví màu đen, bên ngoài có chữ CARTELO”, tình trạng ví đ qua sử dụng.
(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 24/3/2022).
. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000đồng(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Trần Quang V được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 1 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Bị cáo V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 1 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố C; - VKSND tỉnh H; - Công an thành phố C; - Chi cục THADS thành phố C; - Sở tư pháp tỉnh H; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Thu Hương |