vanban.org

Bản án 51/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 25/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/HS-ST
Ngày: 25 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân

Thẩm phán: Bà Trần Thị Nhài.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Tuyên

2. Ông Vi Tuấn Dũng

3. Bà Phan Thị Thuý

Thư ký phiên toà: Ông Phan Khánh Tùng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm Công khai vụ án hình sự, thụ lý số 40/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 bằng hình thức trực tuyến, trong đó điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, 01 điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo:

Nguyễn Chí C, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 16 tháng 10 năm 1990; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm NĐ, xã TC, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Quang H; con bà Lê Thị H1; Vợ Đào Mai L, có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không có

- Nhân thân:

+ Tại bản án số 30/2019/HSST ngày 16/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (CÓ MẶT)

Người bào chữa cho bị cáo do Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên phân công: Bà Mạc Thị H2 – Luật sư văn phòng Luật sư AT, Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên. (có mặt)

Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Bùi Đ, sinh năm 1965. (vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1959. (vắng mặt)

Đều trú tại: Tổ 3, phường ĐQ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

Người tham gia tố tụng khác: Đồng chí Phạm Văn K – Cán bộ dẫn giải Trại tạm giam, Công an tỉnh Thái Nguyên. (có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 9 giờ 40 phút ngày 5/3/2022, Tổ C tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 3, phường ĐQ, TP TN phát hiện bắt quả tang Nguyễn Chí C, sinh năm 1990; HKTT: xóm NĐ, xã TC, TP TN, tỉnh Thái Nguyên, kiểm tra thu trong túi áo khoác màu đen C đang cầm trên tay 01 túi nilon màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu C1; thu giữ tại túi quần phía trước bên trái C đang mặc 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa 197 viên nén màu hồng và 2 viên nén màu xanh; 02 túi nilon màu xanh, bên trong có 279 viên nén màu hồng và 3 viên nén màu xanh niêm phong ký hiệu C2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số thuê bao 0397.410.776; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen, số thuê bao 0963.887.290 niêm phong ký hiệu B; Số tiền 4.000.000đ.

Cùng ngày khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Chí C tại xóm NĐ, xã TC, TP TN, tỉnh Thái Nguyên, không phát hiện thu giữ gì.

Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy mẫu gửi giám định đối với số chất ma túy thu giữ của Nguyễn Chí C kết quả:

Bì niêm phong ký hiệu C1: Cân toàn bộ số chất tinh thể màu trắng có khối lượng 930,836 gam, lấy 29,125 gam niêm phong ký hiệu B gửi giám định, còn lại 901,711 gam niêm phong ký hiệu B1 lưu kho.

Bì niêm phong ký hiệu C2: Cân toàn bộ 476 viên nén màu hồng, có khối lượng 46,301 gam, lấy 7,262 gam niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định, còn lại 39,039 gam, niêm phong ký hiệu A2 lưu kho. Cân toàn bộ 5 viên nén màu xanh có khối lượng 0,475 gam, lấy toàn bộ niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 458/KL-KTHS ngày 13/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu B gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 930,836 gam; Các viên nén màu hồng trong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 46,301gam; Các viên nén màu xanh trong bì ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,475 gam.

Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Chí C là 977,612 gam

Mở kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen và chiếc điện thoại NOKIA màu đen, thu giữ của Nguyễn Chí C không có dữ liệu gì liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 11 giờ ngày 02/3/2022 Nguyễn Chí C gọi điện thoại cho người đàn ông ở tỉnh Sơn La hỏi mua ma túy đá và hồng phiến số tiền 195.000.000đ (Một trăm chín mươi năm triệu đồng) người đàn ông đồng ý và hẹn C trưa ngày 05/3/2022 đến nút giao TĐ để mua bán ma túy. Sau đó khoảng 8 giờ 40 phút ngày 05/3/2022 Nguyễn Chí C đến khu vực nút giao với đường cao tốc TN - HN thuộc tổ 5, phường TT, TP TN, tỉnh Thái Nguyên như đã hẹn trước đó nhận ma túy của người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ 01 gói ma túy, trong có 01 túi ma túy tổng hợp “dạng đá” và 03 túi ma túy tổng hợp “hồng phiến” với giá 195.000.000đồng (Một trăm chín mươi năm triệu đồng) C đã trả trước 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) số còn lại hẹn khi nào bán xong ma túy sẽ thanh toán đầy đủ. Sau khi mua được ma túy C đem ra khu vực tổ 3, phường ĐQ, TP TN, tỉnh Thái Nguyên để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng là 977,612 gam ma túy loại Methamphetamine.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến….

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSTN-P1, ngày 12/7/2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Chí C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí C tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2022; Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 04 bì niêm phong ký hiệu: B1, A2, A3, A1, B, B3, A4, bên trong chứa ma túy, mẫu ma tuý hoàn trả sau giám định và các bì niêm phong ban đầu.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

- Tạm giữ số tiền 4.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo: Xác định việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đã ăn năn hối cải, ông nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; bố đẻ bị cáo được Quân chủng Phòng không không quân tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Bảo vệ bầu trời tổ quốc. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo tốt, trở thành C dân có ích cho xã hội.

Bị cáo nhất trí với nội dung bào chữa của Luật sư.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên và người bào chữa đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Do hám lời, ngày 05/3/2022 Nguyễn Chí C đến khu vực nút giao với đường cao tốc TN - HN thuộc tổ 5, phường TT, TP TN, tỉnh Thái Nguyên mua của một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ 977,612 gam ma túy loại Methamphetamine với số tiền 195.000.000đ (Một trăm chín mươi năm triệu đồng) C đã trả trước 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) rồi cất giấu trong người, sau đó đem đến khu vực tổ 3, phường ĐQ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Với hành vi nêu trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a)…

…

b…Methamphetamine… có khối lượng 100gam trở lên”

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thâu xấu, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, ông nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; bố đẻ bị cáo được Quân chủng Phòng không không quân tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Bảo vệ bầu trời tổ quốc vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án tù Chung thân cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ được chấp nhận, các đề nghị khác, Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

. Vật chứng vụ án:

- Số ma túy thu giữ của bị cáo được niêm phong trong các phong bì niêm phong ký hiệu: B1, A2, A3, A1, B, B3, A4 bên trong chứa ma túy, mẫu hoàn lại sau giám định, bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy

- Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen, quá trình điều tra xác định bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, vì vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Số tiền 4.000.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận, vì vậy cần phải phạt bổ sung một khoản tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong vụ án này, về nguồn gốc số ma tuý theo Công khai mua của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí C: Tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2022. Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Chí C 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu B1 trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Chí C cùng thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi có 901,711 gam là ma tuý tổng hợp Methamphetamine, lưu kho theo quy định;

+ 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu A2 trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Chí C cùng thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi có 39,039 gam viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Chí C, lưu kho theo quy định;

+ 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu A3 trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Thành Chung, Vũ Quang Huy, Trần Anh Tuấn cùng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi chứa 0,451 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả lại sau giám định;

+ 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu A1 trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Thành Chung, Vũ Quang Huy, Trần Anh Tuấn cùng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi chứa 7,131 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả lại sau giám định;

+ 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu B trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Thành Chung, Vũ Quang Huy, Trần Anh Tuấn cùng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi chứa 28,980 gam Methamphetamine, mẫu hoàn lại sau giám định.

+ 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu B3 trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Chí C cùng thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi bì niêm phong ban đầu;

+ 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu A4 trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Chí C cùng thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi chứa bì niêm phong ban đầu, lưu kho theo quy định.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, được niêm phong trong 01 bì niêm phong ký hiệu ĐT trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Chí C cùng thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, số IMEI1: 352182864351119.

- Tạm giữ số tiền: 4.000.000đ (bốn triệu đồng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, được niêm phong trong 01 bì niêm phong ký hiệu ĐT trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Chí C cùng thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi có 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, IMEI1: 356261104079932/01, để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 70 ngày 04 tháng 7 năm 2022 giữa Công an tỉnh Thái Nguyên với Cục THADS tỉnh Thái Nguyên; số tiền theo uỷ nhiệm chi số 218/254 ngày 05/7/2022 của Kho bạc Nhà nước tỉnh Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Nguyễn Chí C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ