- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kim Thị L - Thạch Sô P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị L được ly hôn với ông Thạch Sô P
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2022/HNGĐ-ST Ngày: 19-8-2022 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Kim Mến.
2. Ông Ngô Quốc Tiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu L – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Kim Thị L, sinh ngày 10/9/2000 (Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Thạch Sô P, sinh năm 1989(Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 08 tháng 4 năm 2022, tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08/4/2022 nguyên đơn bà Kim Thị L trình bày:
Bà Kim Thị L và ông Thạch Sô P cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi cưới bà L và ông P sống hạnh phúc thời gian đầu khoản một năm nhưng sau này thì vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã cùng nhau, mặc dù bà L cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng vẫn không có hạnh phúc dẫn đến bà L và ông P đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay bà L yêu cầu được ly hôn cùng ông Thạch Sô P.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà L và ông P có 01 con chung tên Thạch Kim Y, sinh ngày 28/01/2019 hiện đang sống cùng bà L. Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên Thạch Kim Yến, sinh ngày 28/01/2019 đến trưởng thành bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Thạch Sô P: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự nhưng ông Thạch Sô P vắng mặt không lý do, ông cũng không có ý kiến đối với việc bà Kim Thị L yêu cầu ly hôn cùng ông.
Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa hôm nay bà L có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn ông Thạch Sô P chưa thực hiện và chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải; ông Thạch Sô P đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông P đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà Kim Thị L và ông Thạch Sô P.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Kim Thị L cho bà Kim Thị L được ly hôn với ông Thạch Sô P; Về con chung tiếp tục giao cháu Thạch Kim Y, sinh ngày 28/01/2019 cho bà Kim Thị L nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng nuôi con bà Kim Thị L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có; Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bà Kim Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với ông Thạch Sô P đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông P đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông P vẫn vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Kim Thị L và ông Thạch Sô P.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị L và ông Thạch Sô P cưới nhau năm 2018 ông, bà tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND xã Thạnh Quới, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 218/2018 ngày 11/12/2018 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Kim Thị L và ông Thạch Sô P là hôn nhân hợp pháp.
Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà Kim Thị L, Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn thì bà L, ông P sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng thường hay cãi vã cùng nhau, cuộc sống hôn nhân không dung hòa được dẫn đến vợ chồng sống không có hạnh phúc bà L và ông P đã sống ly thân cùng nhau từ năm 2021 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà L và ông P đã không hạnh phúc dẫn đến bà L và ông P sống ly thân từ năm 2021 đến nay đã lâu nhưng ông bà không hàn gắn tình cảm vợ chồng được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà L và ông P không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Kim Thị L.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Kim Thị L và ông Thạch Sô P có 01 đứa con chung tên Thạch Kim Y, sinh ngày 28/01/2019, hiện đang sống với bà Kim Thị L. Khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên Thạch Kim Yến đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, từ khi bà Kim Thị L và ông Thạch Sô P sống ly thân cùng nhau đến nay thì cháu Thạch Kim Y sống chung cùng bà L và bà L có yêu cầu được tiếp tục nuôi con nhằm để tránh cuộc sống hiện tại của em Thạch Kim Y không bị xáo trộn, không làm ảnh hưởng đến tâm lý và ổn định việc học của em Yến nên cần tiếp tục giao em Thạch Kim Y cho bà Kim Thị L được quyền tiếp tục nuôi đến đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Bà Kim Thị L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Kim Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị L được ly hôn với ông Thạch Sô P
2.Về con chung: Giao cho bà Kim Thị L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Thạch Kim Y, sinh ngày 28/01/2019 đến đủ 18 tuổi; ông Thạch Sô P được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Thạch Sô P không phải cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
5. Về Nợ chung: Không có.
6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Kim Thị L phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009979 ngày 01/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên; bà L đã nộp xong.
Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát NDHMX; - Các đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục T.H.A dân sự HMX; - UBND nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiện |