vanban.org

Bản án 51/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

 Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;  Điểm a Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì?  Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 145 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 04/7/2022
v/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Sơn

2. Ông Đặng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 04 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 122/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 38/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị V, sinh năm 1982

Bị đơn: Anh Võ Khánh T, sinh năm 1982

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị V trình bày:

Chị và anh Võ Khánh T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 01/6/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ma Lâm. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do khác biệt về lối sống, suy nghĩ, không ăn ý, không thể hòa hợp. Năm 2012 chị có gửi đơn ly hôn nhưng sau đó vì con cái lại đoàn tụ sống với nhau. Vào cuối năm 2021 anh T có gửi đơn ly hôn đến Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc nhưng sau đó lại rút đơn khởi kiện để cho nhau thêm cơ hội hàn gắn. Tuy nhiên, nhận thấy cả hai không thể hòa hợp để chung sống với nhau được nữa nên chị đã về nhà cha mẹ đẻ ở từ khi anh T gửi đơn ly hôn tới nay. Nay tình cảm vợ chồng với anh T không còn nên chị khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung tên Võ Ngọc Khánh Q, sinh ngày 20/7/2008. Hiện nay cháu Q đang ở với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Võ Khánh T: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh T đều vắng mặt không có lý do. Không có văn bản thể hiện ý kiến của anh T về yêu cầu khởi kiện của chị V. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, chị Huỳnh Thị V vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Võ Khánh T vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị V khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn anh Võ Khánh T. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở thị trấn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Võ Khánh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị V và anh Võ Khánh T tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn ngày 01/6/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo chị V, trong thời gian chung sống, vợ chồng không hòa hợp nên thường xuyên cãi vả và cũng đã hai lần có ý định ly hôn nhưng sau đó đã rút đơn khởi kiện để cho nhau thêm cơ hội để hàn gắn tình cảm. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau nhưng anh T vắng mặt chứng tỏ anh T không có thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị V.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau. Nhưng giữa chị V và anh T không thực hiện được nghĩa vụ vợ chồng với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị V ly hôn với anh T là phù hợp với thực tế và đúng qui định của pháp luật.

Về con chung: Chị V và anh T có 01 con chung tên Võ Ngọc Khánh Q, sinh ngày 20/7/2008, hiện nay đang chung sống với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Để con có cuộc sống ổn định, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị V là phù hợp nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu Võ Ngọc Khánh Q mỗi tháng 2.000.000 đồng. Căn cứ quy định tại Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình thì mức cấp dưỡng nuôi con được căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Xét thấy, cha và mẹ đều phải có trách nhiệm nuôi dưỡng con chưa thành niên, cháu Võ Ngọc Khánh Q đang trong độ tuổi cần phải được chăm lo đầy đủ để phát triển T diện về thể chất cũng như trí tuệ. Từ các nhận định trên, chị V yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

 Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

 Điểm a Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị V:

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị V được ly hôn với anh Võ Khánh T.

Về con chung: Giao con chung tên Võ Ngọc Khánh Q, sinh ngày 20/7/2008 cho chị Huỳnh Thị V trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Võ Khánh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Võ Khánh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Võ Ngọc Khánh Q mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí:

Chị Huỳnh Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005981 ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Anh Võ Khánh T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Thị V và anh Võ Khánh T có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ