- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Trúc L - Danh Th"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Trúc L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt ông Danh Th; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Nguyễn Trúc L
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07/6/2022. V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh. 2. Ông Võ Văn Liềm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 07 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 73/2022/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 02 năm 2022, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/QĐST-HNGĐ, ngày 19 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trúc L – sinh năm 1983, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh K.
2. Bị đơn: Ông Danh Th - sinh năm 1981, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/10/2021, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Trúc L như sau:
Bà kết hôn với ông Danh Th vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào ngày 23/9/2009.
Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, khác biệt trong cách sống nên vợ chồng không có tiếng nói chung và thường hay cãi vả, cuộc sống không hạnh phúc và chồng bà còn bạo lực gia đình. Bà nhận thấy vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm yêu thương gì đối với ông Danh Th nên bà xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Danh Th.
Thời gian chung sống vợ chồng bà có 03 con chung với nhau tên Thị Trà M - sinh ngày 15/4/2005, Thị Ng – sinh ngày 15/8/2007 và Thị Bích T – sinh ngày 25/01/2016 hiện đang sống chung với mẹ.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng bà không có nợ chung. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của pháp luật.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Danh Th.
Về con chung: Bà xin nuôi con chung tên Thị Trà M - sinh ngày 15/4/2005, Thị Ng – sinh ngày 15/8/2007, Thị Bích T – sinh ngày 25/01/2016 và không yêu cầu ông Danh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng bà không có nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Danh Th trình bày trong bản tự khai ngày 25/02/2022 về hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Trúc L. Về mâu thuẫn gia đình thì ông thừa nhận có bạo lực gia đình nhưng cũng là do vợ ông không quan tâm đến ông, không cho ông ngủ chung.
Nguyện vọng:
Về quan hệ hôn nhân: Ông không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Trúc L.
Về con chung: Ông yêu cầu con theo ai thì người đó nuôi, người không nuôi con không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng ông không có nợ chung nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Trúc L và ông Danh Th là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Nguyễn Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà L không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Nguyễn Trúc L.
Ông Danh Th là bị đơn trong vụ kiện, ông được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng ông vắng mặt 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt ông Danh Th.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Trúc L và ông Danh Th kết hôn với nhau vào năm 2004 hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 173/2009, ngày 23/9/2009, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Nguyễn Trúc L và ông Danh Th là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của ông bà là hôn nhân tự nguyện và vợ chồng bà Nguyễn Trúc L với ông Danh Th có thời gian sống hạnh phúc 10 năm nhưng bà L cho rằng vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung và thường xuyên cãi vả, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Mặt khác, ông Danh Th cũng thừa nhận vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên thường hay cãi vả, cuộc sống không hạnh phúc và ông thừa nhận có hành vi bạo lực gia đình nhưng cũng là do vợ ông không quan tâm đến ông, không cho ông ngủ chung. Ngày 07/4/2022, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng bà Nguyễn Trúc L cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, vợ chồng bà Nguyễn Trúc L và ông Danh Th có cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc đã kéo dài nhiều năm nhưng ông bà không tự hàn gắn được, điều đó cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được, bà Nguyễn Trúc L cương quyết xin ly hôn và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương đối với ông Danh Th, vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Trúc L.
Về con chung: Bà Nguyễn Trúc L và ông Danh Th hiện có con 03 người con chung tên Thị Trà M - sinh ngày 15/4/2005, Thị Ng – sinh ngày 15/8/2007 và Thị Bích T – sinh ngày 25/01/2016, đang sống chung với bà L.
Bà L có nguyện vọng nuôi cả 03 người con chung, ông Th yêu cầu Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con. Hiện nay, ông Danh Th đã bỏ địa phương đi đâu không rõ địa chỉ nên Tòa án không thể giao các con chung của ông bà cho ông Th nuôi dưỡng. Mặt khác, cháu M và cháu Ng đều có nguyện vọng sống chung với bà L, vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của bà L.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Trúc L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Trúc L và ông Danh Th không yêu cầu, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Nguyễn Trúc L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0006714, ngày 25/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Trúc L.
Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Trúc L và ông Danh Th được ly hôn với nhau.
Về con chung: Giao cháu Thị Trà M - sinh ngày 15/4/2005, Thị Ng – sinh ngày 15/8/2007 và Thị Bích Tiền – sinh ngày 25/01/2016 cho bà Nguyễn Trúc L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ông Danh Th được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép ngăn cản ông thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử miễn xét.
Các đương sự được quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về nợ chung và tài sản chung: Hội đồng xét xử miễn xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Trúc L phải chịu nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0006714, ngày 25/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS Gò Quao; - Chi cục THA; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |