vanban.org

Bản án 51/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê T được ly hôn với ông Sử N

Về con chung: Giao con chung tên Sử K sinh ngày 04/9/2011 cho bà Lê T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011875 ngày 28/6/2022 của Chi cục Thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn cuc nghĩa"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê T được ly hôn với ông Sử N
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2022
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Thu An

2. Ông Nguyễn Đức Hoài

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Vi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Sách - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê T, sinh năm 1975

Bị đơn: Ông Sử N, sinh năm 1978

Cùng địa chỉ: Tổ 1, KP.3, TT. C, huyện T, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2022, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cúc trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê T và ông Sử N chung sống với nhau vào năm 2002 đến năm 2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Bình Định. Trước khi chung sống cả hai còn độc thân, việc chung sống là tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông N ham mê cờ bạc về đánh đập bà T. Vợ chồng hay cãi vã xô xát nhau, cuộc sống không có hạnh phúc. Hai năm gần đây vợ chồng sống ly thân do luôn mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Ông N hay bỏ đi đâu bà T không biết, tuần lễ nữa tháng mới về nhà một lần rôi bỏ đi tiếp, bà T cũng không quan tâm nữa. Bà T có cuộc sống riêng của bà T, bà T muốn ly hôn để yên tâm làm ăn. Nay bà T nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông N

Về nuôi con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên Sử M sinh năm 2003 và Sử K sinh ngày 04/9/2011. Hiện cháu M đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng cấp dưỡng. Đối với cháu K đang sống cùng bà T, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Sử N đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông N vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông N được.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Lê T xin xét xử vắng mặt, ông Sử N vắng mặt không có lý do

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành phát biểu ý kiến.

Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS năm 2015;

Về việc chấp hành theo quy đinh pháp luật của HĐXX: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 63 BLTTDS 2015;

Về việc chấp hành theo quy định của pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đã chấp hành đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật

+ Quan điểm về giải quyết vụ án:

Vụ án thuộc trường hợp kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21, Điều 97 BLTTDS

Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xét thấy:

Bà T và ông N chung sống với nhau vào năm 2002 đến năm 2009 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống xét thấy ông bà thường xuyên mâu thuẫn, sống ly thân đã lâu và không còn quý trọng, quan tâm chăm sóc, yêu thương nhau nữa làm cho đời sống vợ chồng lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng.

Căn cứ Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình

Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bà Lê T được ly hôn với ông Sử N.

Về con chung: Bà T có nguyện vọng nuôi con chung, ông N không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà T. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của con chung Sử K. Vì vậy, đề nghị HĐXX giao con chung tên Sử K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu nên không đề cập

Về án phí nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn bà Lê T, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn ông Sử N có nơi cư trú tại tổ 1, khu phố 3, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Về thủ tục tố tung: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Sử N mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà Lê T và ông Sử N tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2002 đến năm 2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Phước, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà T cho rằng quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông N ham mê cờ bạc về đánh đập bà T. Vợ chồng hay cãi vã xô xát nhau, cuộc sống không có hạnh phúc. Hai năm gần đây vợ chồng sống ly thân do vợ chồng mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Ông N hay bỏ đi đâu bà T không biết, tuần lễ nữa tháng mới về nhà một lần rôi bỏ đi tiếp, bà T cũng không quan tâm nữa. Bà T có cuộc sống riêng của bà T, bà T muốn ly hôn để yên tâm làm ăn. Điều này phù hợp với chứng cứ là biên bản xác minh ngày 27/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành. Xét thấy, giữa bà T và ông N chung sống thường xẩy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà T cho bà T được ly hôn với ông N.

Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông N có 02 con chung tên Sử M sinh năm 2003 và Sử K sinh ngày 04/9/2011. Hiện cháu M đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng cấp dưỡng. Đối với cháu K bà T yêu cầu được nuôi và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà T có nguyện vọng nuôi con chung chưa thành niên, ông N không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà T. Mặt khác cháu K có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà T giao con chung Sử K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê T phải chịu là 300.000đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê T được ly hôn với ông Sử N

2. Về con chung: Giao con chung tên Sử K sinh ngày 04/9/2011 cho bà Lê T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011875 ngày 28/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ