vanban.org

Bản án 51/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 26/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh Svà Phạm Thị N

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Svà bà N về việc rút lại yêu cầu đối với bà Nguyễn Thị K. Buộc ông Nguyễn Văn T trả cho ông Võ Thanh Svà Phạm Thị N số tiền vốn và lãi là 144.368.000 đồng. (một trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh Svà Phạm Thị N
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 51/2022/DSST
Ngày: 26-5-2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hoàng Nghiệp

Ông Trương Văn Hăng

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quang Khải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2021/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp dân sự hợp đồng vay. Theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 270A/2022/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Võ Thanh Sơn, sinh năm 1959; bà Phạm Thị N, sinh năm 1960; nơi cư trú: tổ 26, ấp Đồng Ky, xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (có mặt)

Bị đơn: ông Nguyễn Văn T (Be), sinh năm, 1961 và Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1964; nơi cư trú: tổ 15, ấp Phú Hòa, xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Svà bà N trình bày: Vào năm 2017, ông T (Be) có hỏi vay tiền của vơ chồng ông bà, mục đích là để làm vốn làm ăn. Do thông cảm hoàn cảnh của ông T nên đã đồng ý cho vay số tiền là 70.000.000 đồng lãi suất 2%, tuy nhiên từ ngày 19/01/2017 đến nay không đóng lãi tổng cộng nợ vốn và lãi là 149.627.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay ông Scó yêu cầu rút lại yêu cầu khởi kiện chỉ kiện ông Nguyễn Văn T (Be) để yêu cầu trả nợ, rút lại yêu cầu kiện bà Nguyễn Thị K

Bị đơn được triệu tập nhưng không đến Tòa án để trình bày và giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Kết quả thu thập chứng cứ như sau:

Chứng cứ nguyên đơn giao nộp là biên nhận do ông T ký nhận số tiền nợ vốn là 70.000.000 đồng. (đã đối chiếu bản chính)

Tòa án đã tiến hành xác minh ông T tại Ban nhân dân ấp Phú Hòa, xã Phú Hữu, thì cho biết ông T (Be) vẫn còn hộ khẩu cư trú tại địa phương tuy nhiên đã bỏ đi khỏi địa phương hiện nay đang ở Bình Dương, do đó, Tòa án giải quyết trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn xem như từ bỏ quyền lợi của mình trong quá trình tố tụng.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng…là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với T phần hội đồng xét xử không có T viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: qua quá trình nghiên cứu hồ sơ có đủ căn cứ để buộc bà Phi trả cho Sbà N số tiền vốn 70.000.000 đồng và lãi suất theo quy định. Do đó Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tính lải suất lại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án nhiều lần tống đạt ông T đều không có ở nhà, theo quy định tại khoản 05 Điều 177, Điều 179 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành niêm yết công khai theo quy định và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp được giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là buộc bị đơn trả lại số tiền vay 70.000.000 đồng. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được Toà án xem xét giải quyết là: “hợp đồng vay” theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thời hiệu: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu áp dụng thời hiệu.

Về nội dung:

Nguyên đơn Sbà N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T (Be) phải trả lại số tiền vay: 70.000.000 đồng từ ngày 19/01/2017 và yêu cầu tính lãi suất

Bị đơn vắng mặt không trình bày ý kiến và Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn nên xem như từ bỏ quyền lợi của mình.

Khi khởi kiện, ông Sbà N có cung cấp 01 Tờ giấy ghi nợ với tổng cộng số tiền vào ngày 19/01/2017 là 70.000.000 đồng có chữ viết và chữ ký tên của ông Nguyễn Văn T (Be) nội dung ông T (Be) thừa nhận thiếu tiền ông Sbà N 70.000.000;

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Svà bà N về việc rút lại yêu cầu đối với bà Nguyễn Thị K.

Từ những căn cứ trên có căn cứ buộc ông T phải có nghĩa vụ trả cho ông Sbà N số tiền đã vay theo quy định.

Vốn và lãi được tính như sau: Thời gian vay từ ngày 19/01/2017 dến ngày xét xử là 26/5/2022 là 64 tháng (làm tròn): vốn 70.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 64 tháng = 74.368.000 đồng

Tổng cộng vốn và lãi: 70.000.000 + 74.368.000 = 144.368.000 đồng.

Về án phí: Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên ông T là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 280; Điều 463, 465, 466, 468, Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 3, Điều 26; khoản 2, Điều 92; Điều 147; Điều 177; Điều 179; Điều 217; khoản 3, Điều 218; Khoản 2, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh Svà Phạm Thị N

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Svà bà N về việc rút lại yêu cầu đối với bà Nguyễn Thị K.

Buộc ông Nguyễn Văn T trả cho ông Võ Thanh Svà Phạm Thị N số tiền vốn và lãi là 144.368.000 đồng. (một trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 7.218.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên ông T là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

Ông Svà bà N được miễn tạm ứng án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của của người vắng mặt là 15 ngày kể ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ