vanban.org

Bản án 51/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc Ông Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ trả cho Ông Phạm Công B tổng số tiền là 712.

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Buộc Ông Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ trả cho Ông Phạm Công B tổng số tiền là 712.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/DS-ST
Ngày 27 tháng 9 năm 2022
Về tranh chấp hợp đồng vay tiền

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trung Nam

Ông Trịnh Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 135/2022/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tiền, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2022/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Công B; Địa chỉ thường trú: Tổ 46, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M; Địa chỉ thường trú: Lê Thị Tính, tổ 6, phường A, quận K, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

3. Người làm chứng: Bà Đặng Thị Lệ Q; Địa chỉ thường trú: 38 Huỳnh Ngọc Đủ, tổ 77 phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 6 năm 2022 và tại phiên tòa nguyên đơn Ông Phạm Công B trình bày:

Thông qua mối quen hệ quen biết, vì tin tưởng nên vào ngày 26/3/2019 Ông Phạm Công B có cho Ông Nguyễn Văn M vay 600.000.000đ mục đích để ông M kinh doanh làm ăn. Khi vay ông M có viết giấy mượn tiền không ghi ngày trả, nhưng hai bên tự thỏa thuận trong thời hạn một năm, hàng tháng ông M trả dần nhiều lần đủ số tiền trên cho ông B. Tuy nhiên đến hẹn trả nợ nhưng ông M không trả, ông B đã rất nhiều lần liên lạc và đến nhà ông M đòi nợ, mỗi lần gặp ông M đều hứa sẽ hẹn ngày trả, khi đến hẹn ông M cắt đứt liên lạc không thực hiện việc trả nợ cho ông B. Do đó, ông B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nợ gốc trên và tiền lãi chậm trả kể từ tháng 4/2020 - 8/2022 (là 02 năm 04 tháng), theo mức lãi suất 8%/năm với tổng số tiền là 712.000.000đ (trong đó gốc 6000.000.000đ, lãi 112.000.000đ).

Theo bản tự khai ngày 22/8/2022 và tại phiên tòa người làm chứng Bà Đặng Thị Lệ Q trình bày:

Bà Đặng Thi Lệ Quỳnh và ông Đặng Công B là bạn bè quen biết nhau lâu năm, năm 2019 bà Quỳnh có cho ông M vay tiền và được biết anh Bình cũng có cho anh Minh vay 600.000.000đ để làm ăn. Sau khi vay, nhiều lần bà Quỳnh và ông B đến nhà ông M đòi tiền nhưng ông M hứa hẹn và sau đó lẩn tránh không gặp.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 26 tháng 03 năm 2019, thể hiện Ông Nguyễn Văn M xác nhận còn của Ông Phạm Công B số tiền là 600.000.000đ. Tuy nhiên, ông M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết nên ông B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi tính từ tháng 4/2020 - 8/2022 (là 02 năm 04 tháng), theo mức lãi suất 8%/năm với tổng số tiền gốc và lãi là 712.000.000 đồng là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 357, 466 và 468 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Công B khởi kiện vụ án Dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tiền đối với bị đơn Ông Nguyễn Văn M, nơi cư trú: Tổ 60, phường Anh Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ngày 07/6/2022 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195 và khoản 1 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp: Vào ngày 26/03/2019 Ông Nguyễn Văn M có vay của Ông Phạm Công B số tiền là 600.000.000 và hẹn trong thời hạn 01 năm sẽ trả đủ số tiền trên cho ông B, tuy nhiên ông M không thực hiện nghĩa vụ trả tiền như đã cam kết. Do đó, ông B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M phải trả tiền gốc và lãi là 712.000.000đ. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thể hiện: Ngày 26/03/2019, Ông Phạm Công B có cho Ông Nguyễn Văn M vay 600.000.000đ, khi vay ông M có viết giấy vay mượn. Về thời hạn vay, mặc dù trong giấy vay mượn không ghi nhưng ông B cho rằng hai bên thỏa thuận trong thời hạn 01 năm (kể từ ngày 26/3/2019 đến tháng 3/2020), hàng tháng ông M phải trả dần số tiền trên cho ông B cho đến khi hết nợ. Theo lời khai của người làm chứng Bà Đặng Thị Lệ Q cho rằng, bà biết sự việc ông M vay tiền của ông B vì bản thân bà cũng cho ông M vay tiền, từ khi ông M vay tiền đến nay, bà và ông B thường xuyên đến nhà ông M đòi tiền nhưng ông M đều lẩn tránh. Do đó HĐXX có căn cứ xác định lời khai của ông B về thời hạn vay như ông B trình bày là có căn cứ. Do ông M vi phạm nghĩa vụ trả tiền như đã cam kết nên ông B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M phải có nghĩa vụ trả khoản tiền trên là có căn cứ. Về yêu cầu tính lãi, tại phiên tòa ông B yêu cầu ông M phải có nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả nợ kể từ tháng 4/2020 – 8/2022 (là 02 năm, 04 tháng) theo mức lãi suất 8%/năm với số tiền là 112.000.000đ là phù hợp. Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi là hợp với Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bị đơn Ông Nguyễn Văn M phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 35.000.000đ (712.000.000đ*5%) theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án). Hoàn trả cho Ông Phạm Công B tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.000.000đ theo biên lai thu số 0002785, ngày 07/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án).

Tuyên xử :

1. Buộc Ông Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ trả cho Ông Phạm Công B tổng số tiền là 712.000.000đ (bảy trăm mươi hai triệu đồng), (trong đó, nợ gốc là 600.000.000đ và lãi 112.000.000đ).

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Ông Nguyễn Văn M phải chịu 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng). Hoàn trả cho Ông Phạm Công B 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002815 ngày 16/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ