- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2021/HS-ST Ngày: 26-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Sơn;
2. Ông Nguyễn Văn Đang.
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành M, sinh ngày: 10/6/1991, tại huyện Nh, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn Qu, xã Qu, huyện Nh, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T và bà Đinh Thị H; (là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng); có vợ Trần Như Qu, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 30/4/2021 đến ngày 06/5/2021 chuyển tạm giam đến nay. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Đinh Văn Th, sinh năm 2003; địa chỉ: thôn L, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Người làm chứng: ông Lê Văn Ng; (vắng mặt)
- Người chứng kiến: ông Phạm Văn C. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 30/4/2021, tổ công tác Công an thành phố Tam Điệp tiến hành nhiệm vụ tuần tra, khi đến đoạn đường thuộc thôn Thống Nhất, xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp phát hiện một nam thanh niên đứng cạnh xe mô tô BKS 35B2-706.99, tổ công tác đi đến yêu cầu kiểm tra, khi cách khoảng 2m phát hiện người này thả đồ vật đang cầm trên tay phải xuống đường. Quá trình kiểm tra, người này khai tên Nguyễn Thành M, đồng thời M tự nhặt từ mặt đường lên 01 túi nilon nhỏ màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đấy là ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra túi nilon có kích thước (2,5x2)cm, bên trong là chất tinh thể màu trắng. M lấy ra 01 túi nilon màu trắng kích thước (2,5x6,8) cm, trên mép dám có vết lửa đốt, bên trong có chất tinh thể màu trắng từ trong túi áo bên trái, phía trước đang mặc trên người giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma túy. M khai toàn bộ số ma túy trên vừa mua của một người thanh niên không quen biết tại gầm cầu vượt, thuộc tổ 4, phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp. Tổ công tác tiến hành niêm phong hai túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và đưa M cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an xã Quang Sơn làm việc. Ngoài ra, còn thu giữ của M 01 bật lửa ga màu xanh đã qua sử dụng, số tiền 850.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng, bên trong có lắp 02 sim Viettel số thuê bao lần lượt là 0356.562.365 và 0356.945.439; 01 xe mô tô BKS 35B2-706.99.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon thu giữ của Nguyễn Thành M và kí hiệu lần lượt M1, M2 gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 351/KLGĐ-PC09-MT ngày 05/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,2310 gam; M2 có khối lượng 0,1728 gam. Tổng khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng trong các mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 là 0,4038 gam.
Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 30 tháng 6 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thành M và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 30/4/2021.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
+ áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm: 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi số: 351/KLGĐ-PC09-MT; vụ Nguyễn Thành M, SN 1991, xảy ra ngày 30/4/2021 tại xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm M1=0,1696 gam; M2=0,1093 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng còn lại: 01 vỏ túi nilon màu trắng, KT (2,5x6,8)cm; 01 vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong vật chứng ban đầu; 01 vỏ phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Thành M; 01 bật lừa ga màu xanh.
+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo số tiền 850.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành M đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khẳng định bản thân bị truy tố về tội “Tàng trữ trài phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng ông Lê Văn Ng trình bày: ngày 30/4/2021, ông thấy Nguyễn Thành M cất giữ 02 túi nilon, bên trong đều có chất tinh thể màu trắng. Nguyễn Thành M khai nhận, 02 túi nilon đều là ma túy đá vừa mua để sử dụng.
Người chứng kiến ông Phạm Văn C trình bày: ngày 30/4/2021, ông được Công an mời chứng kiến việc kiểm tra đối với Nguyễn Thành M, diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/4/2021 (BL17 đến BL20), Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại (BL21), Kết luận giám định số 351/KLGĐ-PC09-MT ngày 30/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (BL25) và các tang vật, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: ngày 30/4/2021, bị cáo Nguyễn Thành M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4038 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…c) Heroine, Cocaine, Methaphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thành M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật.
Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, có như vậy mới có tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 xe mô tô BKS 35B2-706.99 thu giữ của Nguyễn Thành M, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đinh Văn Th. Việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy, anh Th không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại xe mô tô cho anh Th là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, đã qua sử dụng, bên trong có lắp 02 sim Viettel có số thuê bao lần lượt là 0356.562.365 và 0356.945.439 là tài sản hợp pháp của bị cáo M, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo M, bà Đinh Thị H là mẹ đã nhận lại theo ủy quyền là đúng quy định của pháp luật.
Đối với các vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp quản lý gồm: 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi số: 351/KLGĐ-PC09-MT; vụ Nguyễn Thành M, SN 1991, xảy ra ngày 30/4/2021 tại xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm M1=0,1696 gam; M2=0,1093 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng còn lại: 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2)cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng, KT (2,5x6,8)cm; 01 vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong vật chứng ban đầu; 01 vỏ phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Thành M; 01 bật lửa ga màu xanh. Trong đó, số ma túy là vật cấm tàng trữ, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 850.000 đồng thu giữ của bị cáo đã chuyển đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: bị cáo Nguyễn Thành M khai nhận mua của một nam thanh niên không quen biết tại gầm cầu vượt, thuộc tổ 4, phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp. Do đó không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/4/2021.
2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi số: 351/KLGĐ-PC09-MT; vụ Nguyễn Thành M, SN 1991, xảy ra ngày 30/4/2021 tại xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm M1=0,1696 gam; M2=0,1093 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong;
- 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng còn lại: 01 vỏ túi nilon màu trắng, KT (2,5x6,8)cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2)cm; 01 vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong vật chứng ban đầu;
- 01 vỏ phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Thành M;
- 01 bật lửa ga màu xanh.
(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 15/7/2021 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành M số tiền 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng).
(Số tiền 850.000 đồng đã được chuyển đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự theo Ủy nhiệm chi lập ngày 13/7/2021)
3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Thành M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghin đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 26/7/2021. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quán đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Ủy ban kiểm tra huyện ủy Nho Quan; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Bích Hồng |