vanban.org

Bản án 51/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 07/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (17/5/2021). Xử phạt bị cáo Lường Văn Đ 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (17/5/2021). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2021/HS-ST
Ngày 07-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Đăng Đông và bà Lã Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa:

Bà Dương Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn N, sinh năm 2001 tại thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản Nà Tòng, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K(đã chết) và bà Tòng Thị H; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/5/2021 đến 21/5/2021 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lường Văn Đ, sinh năm 1999; tại xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N1, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn L (đã chết) và bà Lò Thị H1; tiền án: Không;

Tiền sự:

Ngày 15/4/2020 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C ra quyết định số 375/QĐ-UBND ngày 15/4/2020 về áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thị trấn. Ngày 15/7/2020 Đ chấp hành xong quyết định.

Ngày 14/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 59 ngày 14/9/2020. Ngày 29/01/2021 Đ bỏ trốn, bị Cơ sở điều trị nghiện ma túy thuộc sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Sơn La ra Quyết định truy tìm học viên bỏ trốn khi đang chấp hành quyết định của Tòa án nhân dân.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/5/2021 đến 21/5/2021 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Chị Hà Thị H2, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn N và Lường Văn Đ làm lao động tự do, đang thuê trọ tại thôn Hợp Nhất, xã Lai Vu, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Trưa ngày 17/5/2021, sau khi ăn cơm xong, N điều khiển xe mô tô BKS 26B2-622.38 đi từ phòng trọ của mình đến phòng trọ của Đ chơi. Tại đây, Đ rủ N đi đến thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương để mua ma túy về sử dụng, do cả 2 đều nghiện ma túy Heroine (trong đó N sử dụng bằng hình thức hút, Đ sử dụng bằng hình thức chích) N đồng ý. Đ đưa cho N 100.000 đồng, N bỏ ra 100.000 đồng để góp mua ma túy, rồi N điều khiển xe mô tô chở Đ đến thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang. Khi đến khu vực bờ sông thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt, Đ đứng ở ngoài đợi, N đi vào trong ngõ gặp và mua 01 gói ma túy, 01 xi lanh, 01 ống nước cất của người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. N giấu gói ma túy vừa mua được trong gấu quần bên phải đang mặc trên người rồi đi ra chỗ Đ đứng đợi đưa cho Đ 01 xi lanh và 01 ống nước cất, Đ giấu vào cạp quần phía trước rồi N điều khiển xe chở Đ đi về sử dụng. Hồi 12 giờ 55 phút cùng ngày, khi N và Đ đi đến đầu cầu Sặt thuộc Khu 3, thị trấn Kẻ Sặt thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang bắt quả tang. Thu giữ tại gấu quần bên phải phía trước trên người N 01 gói bọc ngoài bằng nilon màu vàng, bên trong bọc giấy tráng kim loại màu trắng kích thước (1x2) cm bên trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục; thu trên người Đ 01 xi lanh và 01 ống nước cất. N và Đ khai gói giấy bạc thu giữ của N là ma túy, loại Heroine do N và Đ góp tiền mua để sử dụng; quản lý của N xe mô tô BKS 26B2-622.38.

Tại Kết luận giám định số 275/KLGĐ-PC09 ngày 19/5/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng thu giữ của Lò Văn N và Lường Văn Đ gửi đến giám định có khối lượng là 0,143gam là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại 0,098g ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng và 01 vỏ túi nilon màu vàng.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 19/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang đã truy tố các bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của bản Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 13 đến 16 tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ.

Xử phạt bị cáo Lường Văn Đ từ 14 đến 17 tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ.

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

Tịch thu tiêu hủy 0,098 gam Heroine, 01 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng, 01 vỏ túi nilong màu vàng là mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 xi lanh kim tiêm và 01 ống nước cất.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép ma túy như nêu trên, mục đích sử dụng. Các bị cáo nhất trí với nội dung Kết luận giám định.

Người bào chữa cho bị cáo N có quan điểm tại phiên tòa:

Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt ở mức 12 tháng tù đối với bị cáo N vì lý do lượng ma túy tàng trữ chỉ ở mức gần với mức khởi điểm bị truy tố của khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, mặt khác bị cáo là dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngoài ra, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Đ có quan điểm tại phiên tòa:

Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt ở mức 13 đến 14 tháng tù đối với bị cáo Đ vì lý do lượng ma túy tàng trữ chỉ ở mức gần với mức khởi điểm bị truy tố của khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, mặt khác bị cáo là dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngoài ra, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Các bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ 55 phút ngày 17/5/2021, tại đầu cầu Sặt thuộc Khu 3, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, Lò Văn N và Lường Văn Đ cùng nhau có hành vi cất giấu trái phép 0,143gam ma túy, loại Heroine (ma túy đượcc cất giấu trong người bị cáo N) mục đích để sử dụng, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang phát hiện bắt quả tang.

Hành vi cất giấu trái phép ma túy của các bị cáo đã vi phạm luật phòng chống ma túy, nguy hiểm cho xã hội, là một nguyên nhân gây nên nhiều tệ nạn xã hội, tội phạm khác. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hậu quả nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

. Về nhân thân, tiền sự: Bị cáo N có nhân thân tốt, bị cáo Đ có nhân thân không tốt, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thị trấn và bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sau đó bỏ trốn khi đang chấp hành quyết định của Tòa án nhân dân.

. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trong đồng phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo, răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Hoàn cảnh kinh tế các bị cáo khó khăn, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền.

. 0,098 gam Heroine hoàn lại sau giám định (kèm theo bao gói) là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy; 01 mảnh giấy tráng kim loại, 01 xi lanh kim tiêm và 01 ống nước cất là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Các bị cáo phạm tội phải chịu án phí, tuy nhiên thuộc dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đề nghị được miễn án phí, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 26B2-622.38, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Tòng Thị H, bà H không biết N sử dụng để đi mua ma túy nên ngày 02/8/2021 Cơ quan điều tra đã trả cho bà Hánh là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Đ;

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (17/5/2021).

Xử phạt bị cáo Lường Văn Đ 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (17/5/2021).

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự : Tịch thu cho tiêu hủy 0,098 gam Heroine, 01 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng, 01 vỏ túi nilong màu vàng, 01 xi lanh kim tiêm và 01 ống nước cất. Vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí tòa án: Miễn cho các bị cáo án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ