- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Xuân S - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Xuân S về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2021/HS-PT Ngày: 03 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán:ông Võ Bá Lưu và ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2021, tại phòng xét xử hình sự. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2021/HS-PT ngày 25 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Ngô Xuân S, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo kháng cáo: Ngô Xuân S (tên gọi khác: Mực), sinh ngày 17 tháng 9 năm 1989 tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT và cư trú hiện nay: thôn Đông Sơn, xã Cự Nẫm, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Ngô D (tên gọi khác Ngô S D) và bà Phạm Thị C; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: không; quá trình nhân thân: tại Bản án số 135/2011/HSPT ngày 30/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/11/2020 cho đến ngày 25/01/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: chị Trần Thị T, sinh năm 1979; địa chỉ nơi cư trú: số 186 Cống Quỳnh, phường Phạm Ngủ Lão, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
Trong vụ án còn có những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Trần Quốc B, anh Nguyễn Hữu H, anh Ngô Điện T, anh Lê Xuân T, anh Phạm Phi H, anh Nguyễn Văn Q, ông Hoàng S, chị Phạm Thị U, chị Phạm Thị T, anh Lê Văn D nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được xác định như sau:
Ngày 22/10/2020, chị Trần Thị T có nhờ anh Trần Quốc Bảo liên lạc với các nhà xe ở Quảng Bình để vận chuyển hàng cứu trợ là cá hộp từ kho của Công ty TNHH C N Việt Nam tại lô A4-A8 Khu công nghiệp Suối Dầu, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa ra tỉnh Quảng Bình để ủng hộ nhân dân bị lũ lụt. Thông qua mạng xã hội Facebook, anh Trần Quốc B có quen biết với anh Nguyễn Hữu H và nhờ anh H vận chuyển hàng cứu trợ từ Nha Trang ra Quảng Bình. Do xe của anh H đã về đến Quảng Bình nên anh H đã kết nối để anh B liên hệ với Ngô Xuân S để nhờ S vận chuyển hàng cứu trợ. Tại thời điểm này Ngô Xuân S đang ở tỉnh Bình Dương kêu gọi ủng hộ đồng bảo bị lũ lụt ở tỉnh Quảng Bình. Khoảng 19 giờ ngày 22/10/2020, anh B liên hệ với S và gửi tin nhắn cho S với nội dung “Dạ em có 200 hộp cá hộp nhờ anh chuyển giúp từ Nha Trang về Quảng Bình giúp người dân ạ, nhận ở Nha Trang: Lô A4-A8 KCN Suối Dầu, huyện Cam Lâm, Kháng Hòa. +84918235763 ms Vân. Về Quảng Bình 1 Lê Lợi, Đồng Hới, QB Ms Hạnh 0773870527, Dạ vô cùng biết ơn anh ạ”, Ngô Xuân S đồng ý nhận chỡ giúp.
Sau đó S tiến hành cho bốc xếp hàng hóa mà S đã vận động ủng hộ được của bà con tại tỉnh Bình Dương xếp trên 02 xe ô tô BKS 51C-460.76 và BKS 51C-174.54, đây là phương tiện của anh Ngô Điện T và anh Lê Xuân Tr cùng quê ở Cự Nẫm chuyên chỡ hàng cứu trợ miễn phí; đi cùng xe còn có Nguyễn Văn Q và Phạm Phi H đều trú tại xã Hưng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Trên đường đi, khi xe dừng nghĩ ăn cơm, S nới với T, Tr, Q và H là ra thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa bốc thêm 200 thùng cá hộp. Khoảng 8h ngày 23/10/2020, S đến kho hàng của Công ty C N Việt Nam để nhận hàng, do 02 xe ô tô BKS 51C-460.76 và BKS 51C-174.54 đã chở nhiều hàng hóa nên chỉ chỡ thêm được 150 thùng cá hộp (tương đương 7.200 hộp). Đến khoảng 9 giờ ngày 24/10/2020, hai xe ô tô chở hàng về đến tỉnh Quảng Bình nhưng Ngô Xuân S không giao số cá hộp trên cho bà H (tên thật là Phạm Thị Minh C) như đã thỏa thuận với anh Trần Quốc B mà chở số cá hộp trên 02 xe ô tô xuống tại nhà anh Lê Văn D, trú tại thôn Đông Sơn, xã Cự Nẫm, huyện Bố Trạch. Tại đây, S nhờ một số người dân ở thôn Đông Sơn chia nhỏ hàng hóa để phân phát cứu trợ cho bà con trong đó có cá hộp. Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 25/10/2020, anh H nhắn tin hỏi S về số cá hộp và hàng hóa khác của anh H gửi trên 2 xe ô tô, nhưng S nói dối anh H là xe ô tô bị tai nạn giao thông tại tỉnh Quảng Trị nên chưa giao hàng được. Sau đó, anh B và nhiều người khác cũng gọi điện và nhắn tin cho S yêu cầu trả lại 150 thùng cá hộp, nhưng S trả lời là do xe bị tai nạn giao thông hoặc là đã phát hết cho người dân.
Theo Ngô Xuân S khai báo, trong hai ngày 24/10/2020 và 25/10/2020, S đã phát hết 150 thùng cá hộp và hàng hóa cứu trợ khác cho người dân tại 09 thôn bao gồm: thôn Đông Sơn, Trung Sơn, Nguyên Sơn và Hòa Sơn thuộc xã Cự Nẫm; thôn Khương Hà 2 và Khương Hà 4 thuộc xã Hưng Trạch; thôn Hà Lời, thôn Phong Nha, bản Rào Con thuộc thị trấn Phong Nha và S khai có sử dụng một ít nhưng không nhớ rõ số lượng bao nhiêu hộp. Ngô Xuân S đã cung cấp giấy xác nhận nhận hàng cứu trợ của các thôn (có xác nhận của chính quyền UBND xã, thị trấn), trong đó có mặt hàng cá hộp gồm: thôn Đông Sơn 2.400 hộp, thôn Trung sơn 384 hộp, thôn Nguyên Sơn 350 hộp, thôn Hòa Sơn 500 hộp, bản Rào Con 1.420 hộp, thôn Khương Hà 2 là 250 hộp và thôn Khương hà 4 là 200 hộp. Tổng cộng là 5.504 hộp .
Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Quảng Bình đã tiến hành đều tra và xác định Ngô Xuân S thực tế có phát hàng cứu trợ là cá hộp tại các thôn Trung Sơn, Nguyên Sơn, Hòa Sơn thuộc xã Cự Nẫm; Bản Rào Con thuộc thị trấn Phong Nha; thôn Khương Hà 2 và thôn khương Hà 4 xã Hưng Trạch với số lượng giống như số lượng ghi trong giấy xác nhận mà S cung cấp cho cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Bình. Riêng đối với thôn Đông Sơn, xã Cự Nẫm xác định thực tế Ngô Xuân S chỉ phát 750 hộp cá hộp nhưng trên giấy xác nhận của ông Hoàng S (trưởng thôn) có tổng 2.400 hộp cá là do S đã nhờ một người không biết tên ghi thêm số “1” vào trước số “5” hộp cá ngừ (mỗi suất cứu trợ). Ngày 05/01/2021, phòng kỷ thuật Công an tỉnh Quảng Bình có Kết luận giám định số 14/GĐ-PC09 xác định: Chữ số “1” trước các chữ viết “5 hộp cá” tại dòng thứ 12 từ trên xuống trên tài liệu cần giám định so với chữ viết của ông Hoàng S (trưởng thôn) không phải do cùng một người viết ra.
Đối với thôn Phong Nha và thôn Hà Lời thuộc thị trấn Phong Nha, huyện Bố Trạch, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chính quyền địa phương, lãnh đạo thôn và nhân dân khẳng định trong thời gian qua không nhận được hàng cứu trợ có cá hộp và khẳng định Ngô Xuân S không phát cá hộp cho bà con như S đã khai.
Ngày 04/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình có công văn yêu cầu định giá tài sản. Ngày 12/01/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Bình có kết luận số 108/STC-KLĐG xác định: giá trị của 7.200 hộp cá hộp có đặc điểm hộp được làm bằng kim loại, xung quanh hộp được dán giấy màu xanh có nhiều dòng chữ Vua biển, Cá ngừ ngâm dầu, có ghi khối lượng tịnh 160g là: 7.200 hộp x 22.000 đồng/hộp = 158.400.000 đồng.
Như vậy, kết quả điều tra xác định Ngô Xuân S đã phát hàng cứu trợ cá hộp cho đồng bào lũ lụt tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tổng cộng là 3.854 hộp cá hộp. Số còn lại Ngô Xuân S đã chiếm đoạt 3.346 hộp, có trị giá 73.612.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 18 hộp cá hộp, xung quanh hộp được dán giấy màu xanh có nhiều dòng chữ Vua Biển, Cá Ngừ ngâm dầu, khối lượng tịnh 165g; 01 vỏ thùng Catton có màu vàng và màu xanh, bên ngoài thùng có dòng chữ “Florida” “GRATED DE ATUN EN ACEITE VEGETAL Y SAL”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu đen, số Imei 353298074252571 (máy đã qua ử dụng); 01 USB có chứa dữ liệu trích xuất camera xác định Ngô Xuân S nhận 150 thùng hàng cá hộp tại kho của Công ty TNHH Cá Ngừ Việt Nam; Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 37.312.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số hàng mà bị cáo đã phát cho người dân, riêng số hàng mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại có trị giá 73.612.000 đồng, bị hại chỉ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 37.312.000 đồng, bằng với số tiền mà bị cáo đã nộp tại tài khoản số 21151110300000576 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Bị cáo nhất trí như yêu cầu của bị hại.
Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-P3 ngày 08 tháng 02 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Ngô Xuân S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại bản án số 20/2021/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình quyết định tuyên bố bị cáo Ngô Xuân S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm l khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; các điểm a, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Ngô Xuân S 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/11/2020 đến ngày 25/01/2021.
Án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 tháng 4 năm 2021, bị cáo Ngô Xuân S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm: bị cáo Ngô Xuân S khai và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và quá trình xét xử của Bản án sơ thẩm, giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa có ý kiến. Cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ có liên quan đến tình tiết mới nên không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Xuân S nộp vào ngày 26 tháng 4 năm 2021 là đảm bảo về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Xuân S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như quá trình thực hiện hành vi của mình mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận. Khoảng 8h ngày 23/10/2020, bị cáo đến kho hàng của Công ty Cá Ngừ Việt Nam tại lô A4-A8 khu công nghiệp Suối Dầu, huyện Lam Lâm, tỉnh Khánh Hòa nhận chỡ giúp chị Trần Thị T 150 thùng cá hộp (tương đương 7.200 hộp) ra tỉnh Quảng Bình để giao cho bà H (tên thật là Phạm Minh C) tại địa chỉ: Số 1 Lê Lợi, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đến khoảng 09 giờ ngày 24/10/2020, xe ô tô chở hàng về đến tỉnh Quảng Bình nhưng bị cáo không giao số cá hộp trên cho bà H như đã thỏa thuận từ trước mà tự ý phát cho Nhân dân vùng lũ 3.845 hộp. Số còn lại 3.346 hộp cá, một phần bị cáo lấy để sử dụng, một phần cho và bị những người không quen biết lấy. Đến khi chị Tr yêu cầu trả lại số hàng thì bị cáo nói dối là xe gặp tai nạn, đã phát cứu trợ cho người dân và sữa chữa giấy xác nhận để chiếm đoạt 3.346 hộp cá, trị giá 73.612.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo Ngô Xuân S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Xuân S, Hội đồng xét xử thấy: khi lượng hình đối với bị cáo. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường một phần trách nhiệm dân sự theo yêu cầu của bị hại; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại có ý kiến đề nghị giãm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bố và mẹ được Nhà nước tặng thưởng H chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong hoàn cảnh cả nước đang hướng về Miền Trung để khắc phục hậu quả của thiên tai lũ lụt, việc cứu trợ đồng bào được dư luận cả nước quan tâm theo dõi nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm l khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; năm 2011 bị cáo đã bị Tòa án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” thể hiện nhân thân không tốt, nên đã xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là có căn cứ, phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm được tài liệu, chứng cứ liên quan đến tình tiết mới nên không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm đối với bị cáo Ngô Xuân S không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356; điểm c khoản 2 Điều 175; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm l khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 các điều 135, 136; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Xuân S về phần hình phạt. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Ngô Xuân S 24 (Hai mười bốn) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/11/2020 đến ngày 25/01/2021.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Ngô Xuân S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Công an huyện Bố Trạch; - TAND huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Phòng HSNVCS CAQB (PV06); - Vụ GĐKT I TANDTC; - Sở Tư pháp tỉnh QB; - Bị cáo; những người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn THS, VP TAQB. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Viết Hải |