- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân Nguyễn Văn Tánh- Trương Thị Riêng"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 51/2021/HNGĐ-ST Ngày: 13/09/2021 |
HUYỆN HOÀ BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên Các hội thẩm nhân dân: 1/- Ông Huỳnh Tài Em 2/- Ông Liêu Tài Ngoánh Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Võ Sử Em- Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 09 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 04 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXX-ST ngày 14 tháng 07 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2021/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 08 năm 2021, Thông báo về việc dời ngày xét xử sơ thẩm vụ án số 11/2021/TB-TA ngày 27/8/2021 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 Địa chỉ: Ấp H, xã C, huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc Liêu 2. Bị đơn: Chị Trương Thị R, sinh năm 1986 Địa chỉ: Ấp T, xã Minh D, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu (Anh T có đơn xin vắng mặt, chị R vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 04 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh và chị Trương Thị R xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Minh D, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu.
Quá trình chung sống anh và chị R có 01 (một) con chung tên là Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 29/5/2009. Hiện con chung giữa anh và chị R là cháu V đang sống cùng với chị R. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa anh và chị R là do chị R không chung thủy trong cuộc sống vợ chồng, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cãi nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh và chị R cũng không có biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Hiện tại, anh cũng không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với chị R vì anh đã không còn tình cảm với chị R. Nay, anh Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trương Thị R, về con chung: Đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 29/5/2009 cho chị R trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, Anh T không còn ý kiến trình bày gì thêm. Đối với chị Trương Thị R không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, chị R cũng không cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của anh Nguyễn Văn T theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo về việc dời ngày xét xử sơ thẩm vụ án theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho chị R nhưng chị R không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết. Ý kiến của Viện kiểm sát: * Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề xuất: & Q Fí F i F LÅ X L BÅ ộ X L Å X LÅ X luật tố tụng dân sự năm 2015, căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn T. 2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 29/5/2009 cho chị R trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị R không yêu cầu. Anh T được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét. 4. Án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp vể nuôi con với chị Trương Thị R, nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Trương Thị R có đăng ký thường trú tại ấp T, xã Minh D, huyện Hòa B, Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, anh Nguyễn Văn T có đơn xin vắng mặt, chị Trương Thị R vắng mặt. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng dân sự cho chị R để tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh T và chị R theo quy định, nhưng chị R vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T và chị R. [2] Về hôn nhân: Anh T và chị R xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Minh D, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu và đã được Ủy ban nhân dân xã Minh D cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/7/2009. Vì thế, hôn nhân giữa anh T và chị R là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Anh T cho rằng trong quá trình chung sống với chị R do chị R không chung thủy trong cuộc sống vợ chồng, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cãi nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị R. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân muốn tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống Anh T và chị R không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cự cãi nhau, dẫn đến hiện tại Anh T và chị R đã sống ly thân từ năm 2020. Từ khi sống ly thân đến nay, anh T và chị R cũng không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Trong quá trình xét xử vụ án, anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với chị R, không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy hôn nhân giữa anh T và chị R đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T đối với chị Trương Thị R. [3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh T và chị R có 01 (một) con chung tên là Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 29/5/2009. Hiện cháu V
đang sống cùng với chị R, anh T có nguyện vọng giao cháu V cho chị R trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục Hội đồng xét xử xét thấy, theo khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “ 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Xét thấy, tại thời điểm giải quyết cháu V đủ 07 tuổi trở lên nên cần phải xem xét nguyện vọng của cháu V để giao cháu V cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai của cháu V (BL 35), cháu V có nguyện vọng được sống cùng với chị R. Anh T cũng đồng ý giao cháu V cho chị R trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu V, đồng thời, đảm bảo sự phát triển bình thường và không làm xáo trộn môi trường sống của cháu ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý của cháu V, nên cần tiếp tục giao cháu V cho chị R trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. [4] Về cấp dưỡng: Chị R không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định anh và chị R không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [6] Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, Anh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). [7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. * Tuyên xử:
1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn T đối với chị Trương Thị R, xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Trương Thị R. 2/- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 29/5/2009 cho chị Trương Thị R trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị R không yêu cầu. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3/- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002551 ngày 26 tháng 04 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hòa Bình; - THADS huyện Hòa Bình; - UBND xã Minh D; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Phan Thị Mỹ Xuyên |