vanban.org

Bản án 51/2021/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.

Buộc anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L phải trả cho Ngân hàng T tổng số tiền là: 323.465.472 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn bốn trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó, số tiền gốc còn nợ là 230.000.000 đồng cùng với tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến ngày xét xử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng T khởi kiện anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2021/DSST
Ngày: 09/7/2021
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Y Míp Niê.

2/ Ông Nguyễn Văn Mười.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cát Cảng - Kiểm sát viên.

Ngày 09/7/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2021/TLST-DS ngày 24/02/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2021/QĐXXST-DS ngày 26/5/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 52/QĐST-DS ngày 21/6/2021 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng T

Địa chỉ: Tháp BIDV 35 Hàng V, Quận H, TP H

Người dại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nông Hà H, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng T - chi nhánh Bắc Đ. (Nay là chi nhánh B).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Cao T, chức vụ: Phó giám đốc phòng giao dịch K. (Có mặt).

(Theo quyết định ủy quyền số 1043a/BIDV.BH ngày 22/6/2021).

Bị đơn: Anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Triệu Thị C.

Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo hợp đồng tín dụng số 01/2018/9503248/HĐTD ngày 27/02/2018 thì chị Hứa Thị L (được sự ủy quyền của chồng là anh Nông Thanh N theo văn bản ủy quyền ngày 07/3/2017) đã ký kết với ngân hàng T - chi nhánh Bắc Đ, phòng giao dịch K (nay là chi nhánh B) để vay số tiền 230.000.000 đồng (hai trăm ba mươi triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 27/02/2019, lãi suất vay là 12%/năm, mục đích vay: Tiêu dùng gia đình, mua nội thất.

Để đảm bảo khoản vay chị Hứa Thị L và anh Nông Thanh N đã ký hợp đồng thế chấp số 01/2017/9503248/HĐBĐ ngày 06/3/2017 với ngân hàng để đảm bảo khoản vay. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất có diện tích 6.898,3 m2 tại thửa đất số 20; tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 834987 do UBND huyện K cấp ngày 29/12/2016 cho hộ bà Hứa Thị L.

Quá trình vay vốn tại Ngân hàng, chị L và anh N không thực hiện theo đúng thỏa thuận mà hai bên đã ký kết, chỉ trả được số tiền lãi đến ngày 28/11/2018 là 20.567.671 đồng. Mặc dù ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần và cũng đã thương lượng để chị L và anh N giao tài sản xử lý thu hồi nợ nhưng hai bên không thống nhất. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị L và anh N phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ gốc 230.000.000 đồng và lãi cho ngân hàng cho đến khi trả xong nợ theo thỏa thuận của hợp đồng. Sau khi chị L, anh N trả xong nợ thì ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản mà anh N, chị L đã thế chấp cho ngân hàng. Nếu vi phạm thời hạn trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu thi hành án phát mãi tài sản để thu hồi nợ theo quy định.

Bị đơn anh Nông Thanh N, chị Hứa Thị L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Triệu Thị C vắng mặt tại phiên tòa.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Nông Thanh N, chị Hứa Thị L và bà Triệu Thị C vẫn không có mặt. Qua xác minh tại địa phương xác định: anh Nông Thanh N, chị Hứa Thị L và bà Triệu Thị C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Thôn Lộc B, xã Phú L, huyện K, tỉnh Đ, hiện nay anh N, chị L và bà C đã đi khỏi địa phương nhưng không khai báo tạm vắng. Tòa án đã kết hợp với chính quyền địa phương niêm yết giấy triệu tập nhiều lần nhưng anh N, chị L và bà C vẫn không tham gia tố tụng tại Tòa án nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L phải trả cho nguyên đơn khoản tiền nợ gốc đã vay và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án: Ngày 27/02/2018 ngân hàng T ký hợp đồng tín dụng số 01/2018/9503248/HĐTD cho chị Hứa Thị L (được sự ủy quyền của chồng là anh Nông Thanh N theo văn bản ủy quyền ngày 07/3/2017) vay số tiền 230.000.000 đồng (hai trăm ba mươi triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay là 12%/năm, mục đích vay: Tiêu dùng gia đình, mua nội thất.

Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất có diện tích 6.898,3 m2 tại thửa đất số 20; tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 834987 do UBND huyện K cấp ngày 29/12/2016 cho hộ bà Hứa Thị L.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay, chị L, anh N không trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng theo như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị L và anh N phải trả cho ngân hàng T số tiền gốc đã vay chưa trả là 230.000.000 đồng cùng với lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày 28/11/2018 cho đến ngày xét xử (ngày 09/7/2021) là 93.465.472 đồng. Tổng gốc và lãi là: 323.465.472 đồng.

Đồng thời buộc anh N, chị L phải chịu lãi suất tiếp theo đối với số nợ gốc theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng kể từ ngày 10/7/2021 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc cho Ngân hàng.

Về xử lý tài sản thế chấp: Khi vay tiền anh N, chị L đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất số BQ 834987 do UBND huyện Krông Năng cấp ngày 29/12/2016 cho hộ bà Hứa Thị L. Trong trường hợp anh N, chị L không trả được số nợ gốc và lãi suất phát sinh thì Ngân hàng được quyền xử lý tài sản tài sản thế chấp của anh N, chị L để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Triệu Thị C. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà C, Tòa án nhân dân huyện K đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định cho bà C, nhưng bà C đều vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà C.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng T được nhận lại khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, Điều 184; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.

Buộc anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L phải trả cho Ngân hàng T tổng số tiền là: 323.465.472 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn bốn trăm bảy mươi hai đồng).

Trong đó, số tiền gốc còn nợ là 230.000.000 đồng cùng với tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến ngày xét xử (ngày 09/7/2021) là: 93.465.472 đồng.

Tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 01/2018/9503248/HĐTD ngày 27/02/2018 kể từ ngày 10/7/2021 cho đến khi anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L trả xong nợ.

Sau khi anh Nông Thanh N, chị Hứa Thị L trả xong nợ thì Ngân hàng T phải trả cho anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 834987 do UBND huyện K cấp ngày 29/12/2016 cho hộ bà Hứa Thị L.

[2] Trong trường hợp anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L không trả được nợ thì Ngân hàng T có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 01/2017/9503248/HĐBĐ ngày 06/3/2017 để đảm bảo thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Anh Nông Thanh N và chị Hứa Thị L phải nộp 16.173.273 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng T không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền 8.063.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2019/0015258 ngày 04/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đ.

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ