- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoài Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoài Đ phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2020/HSST Ngày: 25/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đ Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân
Bà Vũ Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Hoài Đ, tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 12/7/1998 tại thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Tổ 05, phường Yên Th, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Thành V, sinh năm 1975 (đã chết); Con bà: Ngô Thị Th, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2020, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai, có mặt tại phiên tòa.
* Những người làm chứng:
- Anh Đỗ Khắc M, địa chỉ: Tổ 2, Phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- Chị Trần Thị Th, địa chỉ: Tổ 2, Phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 26/02/2020 khi Lê Hoài Đ đang ngồi uống nước ở đầu cầu C, thành phố L thì gặp một người đàn ông tên C, không biết tuổi, địa chỉ ở đâu, trong khi ngồi nói chuyện, do Đ là người sử dụng ma túy nên Đ hỏi C có biết chỗ nào bán ma túy không, C bảo ở cổng trường cấp 3 có bán. Sau đó, Đ điều khiển xe máy, nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 24B2 - 580.24 đến khu vực cổng trường Trung học phổ thông số 3 Lào Cai thuộc tổ 4, phường C, thành phố L. Khi đến nơi, Đ gặp một người đàn ông không quen biết đang ngồi trên xe máy dựng ở trước cổng trường, Đ hỏi “Em ở chỗ C đến lấy đồ”, người nam giới này bảo “Lấy bao nhiêu”, Đ bảo “Để cho em mười viên với hai chỉ” và nói tiếp “Hết bao nhiêu”, người đàn ông này trả lời “Tám triệu”, Đ lấy 8.000.000 đồng đưa cho người đàn ông này, người đàn ông này cầm tiền và đưa cho Đ một túi ni lon mầu trắng, bên trong có 09 viên nén mầu vàng, không định hình; 02 mảnh viên nén mầu vàng, không định hình và hai túi ni lon mầu trắng đều chứa các hạt tinh thể rắn, mầu trắng (Đức biết đó là ma túy Kẹo và Ke), Đ cầm và cất vào túi quần dài phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà thuê trọ, địa chỉ: nhà số 039, đường Hưng Hóa thuộc tổ 02, phường D, thành phố L lúc này vào hồi 01 giờ 30 phút ngày 27/02/2020 thì bị tổ công tác Công an phường D, thành phố L phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Tại Kết luận giám định số 57/GĐMT ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 4,06 gam các viên nén, mảnh viên nén mầu nâu vàng, không định hình gửi giám định là loại chất ma túy MDMA. 1,68 gam các hạt tinh thể rắn mầu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Ketammine.
Cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố Lê Hoài Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Hoài Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Hoài Đ từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phat bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng còn lại sau giám định. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đã thu giữ của Lê Hoài Đ cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án, trả lại 01 chứng minh thư mang tên Lê Hoài Đ cho bị cáo. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Hoài Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố, bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên tòa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Những người làm chứng là anh Đỗ Khắc M và chị Trần Thị Th đều vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên các lời khai của những người này trong quá trình điều tra đều phù hợp với lời khai của bị cáo Lê Hoài Đ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Lê Hoài Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với Kết luận giám định số 57/GĐMT ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 26/02/2020, tại khu vực tổ 4, phường C, thành phố L. Lê Hoài Đ đã trực tiếp mua 4,06 gam ma túy MDMA và 1,68 gam ma túy Ketammine của một đối tượng không quen biết với giá 8.000.000 đồng để sử dụng. Hành vi của bị cáo mua 2 chất ma túy mà tổng khối lượng của các chất ma túy MDMA và Ketammine quy định tại điểm c và điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Lê Hoài Đ như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai và tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Tại thời điểm phạm tội, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 2,88 gam MDMA và 1,42 gam Ketamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ đã được tái niêm phong xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 Plus mầu vàng, số IMEI: 354437069395099 cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Riêng 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Hoài Đ xét thấy không liên quan đến hanh vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho Lê Hoài Đ.
Đối với người đàn ông mà bị cáo khai nhận đã bán ma túy, quá trình điều tra và tại phiên tòa không làm rõ được lai lịch địa chỉ của đối tượng này do vậy chưa đủ căn cứ để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoài Đ phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoài Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2020.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 2,88 gam MDMA và 1,42 gam Ketamine còn lại sau trích mẫu cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Trên mặt bì có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lê Hoài Đ ngày 27/02/2020 tại tổ 2, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
- Tạm giữ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 Plus mầu vàng, số IMEI: 354437069395099 của Lê Hoài Đ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Lê Hoài Đ 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Hoài Đ.
Xác nhận các vật chứng trên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã chuyển giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai theo nội dung biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/6/2020.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Hoài Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
N¬i nhËn:
| - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh - VKSNDTP; - Đội CSHTTP - Bộ phận QLHS - Bị cáo; - Chi cục THADSTP; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đức Thịnh |