- Tranh chấp gì? án hình sự — "bui van son pham toi mua ban trai phep chat ma tuy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------- Bản án số: 51/2020/HSST Ngày 27/4/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu H.
Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang H; ông Trần Xuân B.
Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu T- Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Bà Hồ Thị L - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 27/4/2020, tại
thành phố B, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2020/HSST ngày 24/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/QĐXXST-HS ngày 13/4/2020 đối với bị cáo:
Bùi Văn S, sinh năm 1988.
Nơi ĐKHKTT: Xóm Đ, xã B huyện L tỉnh H;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Bùi Văn N, đã chết và bà Bùi Thị N, sinh năm 1963; Vợ: Bùi Thị N, sinh năm 1988; con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tõ ngµy 01/01/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
: Ông Trần Thọ Đ -
trung tâm
).
.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ ngày 01/01/2020, tại khu C, phường V, thành phố B, tỉnh B, Công an phường V, thành phố B bắt quả tang Bùi Văn S đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Quang C, sinh năm 1985 trú tại khu C, phường V, thành phố B nhằm mục đích kiếm lợi nhuận.
Vật chứng thu giữ: Thu tại tay trái của Nguyễn Quang C đang cầm 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (túi này được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu M1)
Thu tại tay phải của S đang cầm 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 gói giấy bạc màu vàng đều chứa chất bột màu trắng (túi này được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu M2).
Thu giữ tại tay trái của S tờ tiền mệnh giá 200.000đồng.
Ngày 02/01/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở trọ của S tại thôn H, xã H, huyện V, tỉnh B nhưng không thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số: 73/KLGĐMT-PC09 ngày 03/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B kết luận:
“
phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0179gam; Là ma túy:
: Heroine”.
: Heroine”.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKSTPBN ngày 24/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Bùi Văn Son về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn S khai: Khoảng 15 giờ, ngày 01/01/2020, bị cáo bắt xe khách từ huyện V tỉnh B đến huyện T, tỉnh B mục đích mua ma túy về bán lấy tiền kiếm lợi nhuận. Đến nơi, S gặp một người phụ nữ không quen biết và hỏi mua 500.000đồng tiền ma túy, người phụ nữ đồng ý, cầm tiền và đưa cho S 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 gói giấy bạc màu vàng bên trong là ma túy heroine. Bị cáo thừa nhận hành vi tìm mua ma túy với tổng trọng lượng 0,2140 gam heroine với giá 500.000đồng của người phụ nữ không quen biết mục đích đem về bán lại kiếm lời. Sau đó S bắt xe khách quay về thành phố B, đi bộ vào khu C phường V, thành phố B xem có ai mua ma túy thì bán. Vào 18 giờ ngày 01/01/2020 bị cáo đã bán lại cho Nguyễn Quang C 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,0179 gam heroine với giá 200.000đồng, khi C đưa tiền nhận 01 gói ma túy từ bị cáo, bị cáo nhận tiền thì bị Công an bắt quả tang thu tại tay trái của C 01 gói ma túy. Thu tại tay phải của bị cáo Son 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 gói giấy bạc màu vàng đều chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,1961 gam heroine. Toàn bộ số ma túy này bị cáo S dùng vào mục đích bán lấy tiền kiếm lợi nhuận. Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nguồn gốc số gói ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của một người phụ nữ không quen biết ở khu vực huyện T, tỉnh B dùng vào mục đích bán lấy tiền kiếm lời. Xong người phụ nữ này tên tuổi là gì, ở đâu bị cáo không biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Bùi Văn S từ 26 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/01/2020. Qua xác minh bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản đề nghị m
cho
.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền do phạm tội mà có.
Người bào chữa cho bị cáo S, ông Trần Thọ Đ tranh luận: Nhất trí với lời luận tội của Vị đại diện Kiểm kiểm sát, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ông Đ đồng tình với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất. Ông Đ còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, bị cáo không có tài sản, hoàn cảnh gia đình thuộc xã đặc biệt khó khăn do vậy đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo thừa nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và các chứng cứ tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn S tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Bị cáo thừa nhận hành vi tìm mua ma túy với tổng trọng lượng 0,2140 gam heroine với giá 500.000đồng của người phụ nữ không quen biết mục đích bán lại kiếm lời, vào 18 giờ ngày 01/01/2020 bị cáo đã bán lại cho Nguyễn Quang C 0,0179 gam heroine với giá 200.000đồng là phạm tội. Ngoài ra còn thu giữ tại tay phải của bị cáo 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 gói giấy bạc màu vàng đều chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,1961 gam heroine. Toàn bộ số ma túy này bị cáo Son dùng vào mục đích bán lấy tiền kiếm lợi nhuận. Bị cáo Bùi Văn S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cáo trạng truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo khi lượng hình là hoàn toàn phù hợp pháp luật.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và cân nhắc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với các quy định pháp luật và xét đề nghị của Đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, biết tuân thủ pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, xét động cơ phạm tội của bị cáo mang tính vụ lợi, lẽ ra với bị cáo cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là „‟Phạt tiền‟‟ theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản, số tiền thu lời bất chính không lớn nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về vật chứng: Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền do phạm tội mà có.
Liên quan trong vụ án có người phụ nữ đã bán ma túy cho S nhưng S không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhận dạng được đối với người phụ nữ này. Do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Quang C là người mua chất ma túy của S bán, do khối lượng ma túy Chung mua để sử dụng không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. C chưa có tiền án, tiền sự hiện C không có mặt tại địa phương, C đi đâu làm gì gia đình và địa phương không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1, Điều 251; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2020. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
.
Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2020 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đồng.
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - VKSND thành phố B; - CCTHADS thành phố B; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hồng |