- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM N THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:51/2020/HSST Ngày: 26/6/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thanh Nga
Nghề nghiệp: cán bộ hưu trí
2. Ông Nguyễn Hữu Đức
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Dũng - cán bộ Tòa án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Công Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2020 tại Trung tâm Thể dục Thể thao Quận N- 120-122 Khánh Hội, Phường 4, Quận N, Tp. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2020/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2020/QĐXXST-HS ngày 10/6/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THANH A; tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/9/1995 tại B-R; giới tính: Nam; đăng ký NKTT 122/27/31 E, Phường F, Quận N, Tp. Hồ Chí Minh; Chổ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Nguyễn Thanh K(đã chết) và bà Trịnh Thị Bích L, sinh năm 1978; vợ, con: không; tiền án: Không; tiền sự: - Năm 2017, Tòa án nhân dân Quận N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng. Chấp hành xong ngày 26/7/2018 tại Cơ sở cai nghiện ma túy. Năm 2018, Tòa án nhân dân Quận N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng. Chấp hành xong ngày 06/2/2020 tại Cơ sở cai nghiện ma túy; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 12/02/2020 “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 12/02/2020, Công an Phường J, Quận N tuần tra đến bên hông nhà số 122/27/16 W, Phường J, Quận N phát hiện Nguyễn Thanh A có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an Phường J, Quận N phát hiện Nguyễn Thanh A đang cất giấu trong túi quần Jean bên trái, phía trước của A đang mặc 01 gói giấy bên trong có chứa tinh thể không màu nghi vấn là chất ma túy nên đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 309/KLGĐ-H ngày 17/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. HCM, kết luận:
- Tinh thể không màu trong 01 gói giấy được niêm phong bên ngoài có ghi chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh A và hình dấu Công an Phường J, Quận N là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4637 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận N, Nguyễn Thanh A khai nhận: Vào sáng ngày 06/02/2020, Nguyễn Thanh A chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy, A đón xe khách về bến xe Miền Đông. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, A thuê xe ôm chở đến khu vực Quận E, tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, A gặp một phụ nữ (không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy với giá 120.000 đồng. Người phụ nữ này đã bán cho A 01 gói giấy có chứa ma túy bên trong với giá 120.000 đồng, A lấy gói giấy có chứa ma túy cất giấu vào túi quần Jean bên trái, phía trước của A đang mặc rồi đi về khu vực hẻm 122 W, Phường J, Quận N sống lang thang. Trong thời gian sống lang thang tại đây, A có lấy một ít ma túy ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại A tiếp tục cất giấu trong túi quần để sử dụng. Đến khoảng 18 giờ ngày 12/02/2020 A đang đứng bên hông nhà số 122/27/16, Phường J, Quận N thì bị Công an Phường J, Quận N kiểm tra bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 13/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận N đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh A khai nhận đã thực hiện hành vi mua và cất giấu ma túy nhằm sử dụng cho bản thân như nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N giữ quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thanh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để thu nộp ngân sách nhà nước và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Quá trình đối đáp, tranh luận bị cáo, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên ý kiến như trên, không có tình tiết phát sinh nào mới.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố; Bị cáo rất ăn năn, hối hận vì đã phạm tội nên không có ý kiến tham gia tranh luận; Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau và còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản Kết luận giám định số: 309/KLGĐ-H ngày 17/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. HCM đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 12/02/2020, tại bên hông nhà số 122/27/16 W, Phường J, Quận N, Nguyễn Thanh A bị Công an Phường J, Quận N bắt quả tang đang cất giấu trái phép 0,4637 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận N đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Để nghiêm trị hành vi trái pháp luật thực hiện do lỗi cố ý, đối với bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất vụ án và mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo để xử phạt. Bị cáo có 02 tiền sự bị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tuy nhiên chấp hành xong các quyết định bị cáo không sửa đổi tiếp tục lao vào con đường ma túy. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc để xử phạt bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình có khó khăn nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Ngoài ra, còn áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 phạt tiền bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để thu nộp ngân sách Nhà nước.
Xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong ghi vụ 309 bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh A và hình dấu Công an Phường J, Quận N là chất ma túy còn lại sau giám định. Đây là chất ma túy độc hại, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy. (Theo biên bản giao nhận vật chứng đề ngày 02/6/2020 giữa Công an Quận N và Chi cục Thi hành án dân sự Quận N).
Về án phí: Bị cáo phải nộp số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Nguyễn Thanh A 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 02 năm 2020. Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Phạt tiền Nguyễn Thanh A 5.000.000 (Năm triệu) đồng để thu nộp ngân sách nhà nước.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ 309 bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh A và hình dấu Công an Phường J, Quận N
(Theo biên bản giao nhận vật chứng đề ngày 02/6/2020 giữa Công an Quận N và Chi cục Thi hành án dân sự Quận N)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: . Bị cáo (1) . Người tham gia tố tụng (0) . CA TPHCM (PC 53) (1) . TAND TP.HCM (1) . Sở Tư pháp TP.HCM (1) . VKSND Q4 (2) . CA Q4 (2) . THADS Q4 (1) . THAHS Q4 (3) . Lưu VP - hồ sơ. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Thảo |