- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T và đồng phạm Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 321; điểm s, x Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Kiều Hồng M .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2020/HS-ST Ngày: 18/11/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lƣơng Viết Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thiệm
Ông Đỗ Minh Thân
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Dƣơng Thị Thanh Hoa – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân hu n Thanh Thủ , tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện VKSND huyện Thanh Thủy tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nhân Đạo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2020/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày: 09/3/1977 tại hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ; Nơi cư tr : Khu 1, xã Y hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông: Ngu ễn V, sinh năm 1946 và bà Ngu ễn X, sinh năm 1947; Có vợ: Ngu ễn E sinh năm 1979; Con: Có 2 con lớn sinh năm 1998; nhỏ sinh năm 2001.
- Tiền án tiền sự: Không
Bị cáo Ngu ễn Văn T bị tạm giữ từ ngà 17/7/2020 đến ngà 21/7/2020 được hủ bỏ bi n pháp tạm giữ. Hi n đang chấp hành L nh cấm đi khỏi nơi cư tr tại xã Y hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ. (Có mặt)
2. Kiều Hồng M; sinh ngày: 06/9/1968 tại hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ; Nơi cư tr : Khu 2, xã Y hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông: Kiều Hồng D (Đã chết) và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1932; Có vợ: Lương Thị G, sinh năm 1971; Con: Có 2 con, lớn sinh năm 1994; nhỏ sinh năm 2002.
- Tiền án tiền sự: Không
- Lịch sử bản thân:
+ Tại Bản án số 22/2010/HSST ngà 26/6/2010 bị Tòa án nhân dân hu n Ph c Thọ thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm qu định về điều khiển phương ti n giao thông đường bộ”.
Bị cáo Kiều Hồng M bị tạm giữ từ ngà 17/7/2020 đến ngà 21/7/2020 được hủ bỏ bi n pháp tạm giữ. Hi n đang chấp hành L nh cấm đi khỏi nơi cư tr tại xã Y hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ. (Có mặt)
3. Bùi Văn H; sinh ngày: 06/9/1980 tại hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ; Nơi cư tr : Khu 4, xã Y hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Bùi Thanh M, sinh năm 1955 và bà Tăng Thị Q, sinh năm 1953; Có vợ: Kiều Thị P, sinh năm 1983; Con: Có 1 con sinh năm 2013;
- Tiền án tiền sự: Không
Bị cáo Bùi Văn H bị tạm giữ từ ngà 17/7/2020 đến ngà 21/7/2020 được hủ bỏ bi n pháp tạm giữ. Hi n đang chấp hành L nh cấm đi khỏi nơi cư tr tại xã Y hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ. (Có mặt)
4. Phan Văn K; sinh ngày: 26/11/1982 hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ; Nơi cư tr : Khu 3, xã E hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Phan Văn Z, sinh năm 1957 và bà Trần Thị R, sinh năm 1957; Có vợ: Ngu ễn Thị I, sinh năm 1990; Con: Có 2 con lớn sinh năm 2007; nhỏ sinh năm 2017;
- Tiền án tiền sự: Không;
- Lịch sử bản thân:
+ Năm 2001 bị Công an hu n Thanh Thủ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”;
+ Năm 2006 bị Công an hu n Thanh Thủ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”;
+ Năm 2015 bị Công an hu n Thanh Thủ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”;
Bị cáo Phan Văn K bị tạm giữ từ ngà 17/7/2020 đến ngà 21/7/2020 được hủ bỏ bi n pháp tạm giữ. Hi n đang chấp hành L nh cấm đi khỏi nơi cư tr tại xã E hu n Thanh Thủ tỉnh Ph Thọ. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng gần 21 giờ ngà 17/7/2020 Kiều Hồng M sử dụng chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Samsung J7 Pro màu đen đã cũ lắp sim số 0963.098.038 của mình gọi đến số đi n thoại 0969.829.773 của Ngu ễn Văn T hỏi T là “có ai đánh bạc” ở nhà T không thì T trả lời Minh là “giờ chưa có ai l c nào có sẽ gọi đi n xuống nhà”. Sau đó T dùng chiếc đi n thoại di động nhãn Samsung Galax A20 màu đen đã cũ lắp sim số 0969.829.773 của mình gọi đến số đi n thoại 0359.969.969 của Phan Văn K rủ K đến nhà T đánh bạc thì K đồng ý. Do l c đó K đang ngồi uống cà phê cùng với Bùi Văn H nên K đã rủ H cùng đến nhà T đánh bạc thì H đồng ý đi cùng K. Sau đó H điều khiển xe mô tô nhãn hi u Honda Blade màu đỏ - đen đã cũ BKS 19L1-148.69, K điều khiển xe mô tô nhãn hi u Honda SH mode màu vàng - nâu đã cũ BKS 19L1-194.43 đi đến nhà T để đánh bạc. Sau khi K và H đến T gọi đi n lại cho M, bảo M xuống nhà T để đánh bạc. Khoảng 10 phút sau, M điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng - đen - bạc đã cũ BKS 19L1 - 154.12 của mình đến nhà T để đánh bạc. Sau khi M đến T lấ bộ bài t lơ khơ 52 quân ở trên mặt bàn ăn kê ở gian bếp 01 chiếu nhựa màu đỏ in hoa văn màu xanh và 04 miếng đ m bằng vải màu đỏ ở trên giường xuống trải ra nền gian bếp rồi T, M, K và H cùng nhau ngồi xuống đánh bạc bằng hình thức đám liêng ăn tiền. Các đối tượng thống nhất cách chơi cụ thể như sau: Ván bài đầu tiên thì T là người chia bài các ván tiếp theo thì người chia bài là người thắng ở ván bài trước đó. Trước khi bắt đầu chia bài mỗi người chơi phải đặt cược 20.000đ xuống “chiếu bạc” (gọi là “tiền gà”). Người chia bài sẽ sử dụng bộ bài t lơ khơ 52 quân từ A đến K chia cho mỗi người chơi 3 quân bài. Sau khi lên bài người chơi sẽ có 03 lựa chọn là “ p bỏ” “theo” hoặc “tố”. Người chơi chọn “ p bỏ” (nghĩa là p bài của mình xuống) thì sẽ bị xử thua ván đó và mất số tiền “gà” đã đặt l c đầu. “Theo” thì người chơi phải đặt thêm số đặt tiền cược đ ng bằng số tiền của người ở “cửa trên” đã đặt;” đã đặt nhưng không được quá 200.000đ. Ván bài kết th c khi chỉ còn một người không “ p bỏ” hoặc không ai “tố” thêm tiền nữa nếu chỉ còn một người theo bài thì người nà sẽ là người thắng cuộc nếu còn từ hai người trở lên vẫn tiếp tục chơi thì những người nà sẽ so sánh bài với nhau để xác định người thắng cuộc theo thứ tự từ cao xuống thấp là Sáp - Liêng - Ảnh - Điểm. “Sáp” là 03 quân bài có cùng bộ thấp nhất là 03 quân 2 và cao nhất là 03 quân A; “Liêng” là 03 quân bài có giá trị liên tiếp nhau liêng thấp nhất là A 2 3 và liêng cao nhất là Q K A; “Ảnh” là 03 quân bài đầu người (J Q K). Trường hợp bài của những người chơi không có Sáp Liêng Ảnh thì sẽ tính “Điểm” bằng cách cộng tổng giá trị của 03 quân bài người chơi được chia rồi lấ hàng đơn vị của tổng điểm tính là điểm của người chơi ai cao điểm hơn thì sẽ là người thắng. Qu ước quân A là 1 điểm các quân bài 10 J Q K là 0 điểm các quân bài còn lại thì điểm là số thể hi n trên quân bài. Nếu người chơi có Liêng bằng nhau hoặc có cùng Ảnh cùng Điểm thì sẽ dựa vào chất của các quân bài để so sánh theo thứ tự từ cao xuống thấp là “Rô - Cơ - Tép - Bích” và người thắng sẽ được hưởng tất cả số tiền những người chơi đã cược trong ván bài đó. Các đối tượng đánh bạc đến 23 giờ 15 ph t ngày 17/07/2020 thì bị Công an hu n Thanh Thủ phát hi n bắt quả tang.
Về số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc các đối tượng khai nhận như sau: Khi tham gia đánh bạc, Ngu ễn Văn T sử dụng số tiền 2.750.000đ để đánh bạc, Kiều Hồng M sử dụng số tiền 1.350.000đ để đánh bạc, Phan Văn K sử dụng số tiền 1.400.000đ để đánh bạc và Bùi Văn H sử dụng số tiền 1.370.000đ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc do bị thua hết tiền nên Tín đã va của T 1.000.000đ để tiếp tục tham gia đánh bạc. Đối với số tiền 19.000.000đ Cơ quan Công an thu giữ trên người Kiều Hồng M, M khai để riêng trong ví và không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Các đối tượng khai nhận để toàn bộ số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc ở dưới “chiếu bạc”. Số tiền Cơ quan Công an thu giữ tại “chiếu bạc” là 6.870.000đ quá trình đánh bạc H va của T 1.000.000đ nên xác định tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.870.000đ. Quá trình điều tra Bùi Văn H đã tự ngu n giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 1.000.000đ.
Bản cáo trạng số 54/CT-VKSTT ngày 09/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H và Phan Văn K vể tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 321; điểm s, x Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Kiều Hồng M .
* Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 321; điểm i, s Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
* Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Phan Văn K và bị cáo Bùi Văn H.
* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H và Phan Văn K phạm tội “Đánh bạc”.
* Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 04 ngày (từ ngày 17/7/2020 đến ngày 21/4/2020) quy đổi bằng 12 ngày Cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 14 tháng 18 ngày đến 17 tháng 18 ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Bị cáo Kiều Hồng M từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 04 ngày (từ ngày 17/7/2020 đến ngày 21/4/2020) quy đổi bằng 12 ngày Cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 14 tháng 18 ngày đến 17 tháng 18 ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Bị cáo Bùi Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 04 ngày (từ ngày 17/7/2020 đến ngày 21/4/2020) quy đổi bằng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 11 tháng 18 ngày đến 14 tháng 18 ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Bị cáo Phan Văn K từ 12 tháng đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 04 ngày (từ ngày 17/7/2020 đến ngày 21/4/2020) quy đổi bằng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 18 ngày đến 14 tháng 14 ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã E, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
* Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H, Phan Văn K.
* Về nghĩa vụ lao động phục vụ cộng đồng: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H, Phan Văn K trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu số tiền 7.870.000đ(bảy triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu 01 chiếu nhựa màu đỏ in hoa văn màu xanh; 04 miếng đệm bằng vải nhung màu đỏ, kích thước 60x60 cm; 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K của bị cáo Nguyễn Văn T để tiêu hủy.
- Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro màu đen đã cũ của bị cáo Kiều Hồng M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note6 Pro màu đen đã cũ của bị cáo Phan Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 màu đen đã cũ của bị cáo Nguyễn Văn T để bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy các thẻ sim có số thuê bao 0963.098.038 của bị cáo Kiều Hồng M; 0359.969.969 của bị cáo Phan Văn K; 0969.829.773 của bị cáo Nguyễn Văn T.
- Trả lại cho: bị cáo Phan Văn K 01 thẻ sim có số thuê bao 0355.155.999 được lắp trong ĐTDĐ hiệu Redmi Note6 Pro màu đen trên; bị cáo Kiều Hồng M 01 thẻ sim có số thuê bao 0981.094.659 được lắp trong ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung J7 Pro màu đen trên.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2020.
- Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Thủy đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản là hợp pháp.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H và Phan Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đ ng người đ ng tội, không oan sai. Lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai tại phiên toà hôm na đều thống nhất với nhau, phù hợp với nội dung vụ án và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, cùng các tài li u khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 17/7/2020 tại gian bếp ăn tầng 1 nhà ở của Ngu ễn Văn T, các bị cáo Ngu ễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H và Phan Văn K đã có hành vi Đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh “Liêng” sát phạt nhau bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.870.000đ. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo qu định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự qu định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương ảnh hưởng đến sự ổn sịnh kinh tế gia đình là nguồn gốc phát sinh nhiều t nạn xã hội khác. Hi n nay, mặc dù TAND huy n Thanh Thủ đã đưa ra xét xử nhiều vụ án Đánh bạc với hình phạt nghiêm khắc tu nhiên trên địa bàn huy n Thanh Thủy tình hình đánh bạc diễn ra với chiều hướng gia tăng. Do vậy vi c truy tố, xét xử đối với các bị cáo là cần thiết, thể hi n sự nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình phạt đối với các bị cáo thấy rằng:
Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự là những người có nhân thân tốt. Đối với bị cáo Kiều Hồng M, tại Bản án số 22/2010/HSST ngày 26/6/2010, bị Tòa án nhân dân huy n Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Bị cáo M đã chấp hành xong hình phạt và nộp khoản án phí vào tháng 6/2011. Theo qu định của pháp luật thì bị cáo M đã được xóa án tích đối với bản án nêu trên, lần phạm tội này của M không bị coi là “tái phạm”. Do vậy, các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào qu định tại Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo T, H và K đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm i, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo M đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Hu chương chiến sĩ vẻ vang, bị cáo M và bị cáo T có bố đẻ là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng huân hu chương. Vì vậ HĐXX áp dụng Điểm x, Khoản 1, Điều 51, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự cho bị cáo M và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự cho bị cáo T.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đâ là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn các bị cáo đều cùng nhau thực hi n hành vi phạm tội. HĐXX sẽ xem xét vụ thể vai trò của các bị cáo để Quyết định hình phạt phù hợp cho từng bị cáo trong vụ án.
Từ những sự phân tích trên, xét thấy: các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư tr ổn định, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo ít nghiêm trọng, nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khởi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng phạt Cải tạo không giam giữ có giám sát, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ, các bị cáo phải thực hi n một số công vi c lao động phục vụ cộng đồng theo qu định
Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Các bị cáo đều không có nghề nghi p và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, vì vậ HĐXX miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Số tiền: 7.870.000đ (bảy triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu để sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếu nhựa màu đỏ in hoa văn màu xanh; 04 miếng đ m bằng vải nhung màu đỏ kích thước 60x60 cm; 52 quân bài t lơ khơ từ A đến K là công cụ các đối tượng sử dụng vào vi c đánh bạc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủ .
Đối với 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung J7 Pro màu đen đã cũ thu giữ của bị cáo Kiều Hồng M; 01 đi n thoại di động nhãn hi u Redmi Note6 Pro màu đen đã cũ thu giữ của bị cáo Phan Văn K; 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung Galaxy A20 màu đen đã cũ thu giữ của bị cáo Ngu ễn Văn T đâ là phương ti n liên lạc các bị cáo dùng để rủ nhau đánh bạc là phương ti n phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước.
Đối với các thẻ Sim có số thuê bao 0963.098.038 của bị cáo Kiều Hồng M; 0359.969.969 của Phan Văn K; 0969.829.773 của bị cáo Ngu ễn Văn T, là số đi n thoại các bị cáo liên lạc cần tịch thu tiêu hủ do không có giá trị sử dụng.
Đối với các thẻ sim có số thuê bao 0981.094.659 của bị cáo Kiều Hồng M; thẻ sim có số thuê bao 0355.155.999 của bị cáo Phan Văn K không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.
Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Thủ đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội là hợp pháp, cần xác nhận.
Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Đề nghị của kiểm sát viên VKSND huy n Thanh Thủy tại phiên toà hôm na là có căn cứ và đ ng pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qu định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 321; điểm s, x Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Kiều Hồng M .
* Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 321; điểm i, s Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
* Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phan Văn K và bị cáo Bùi Văn H.
* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H và Phan Văn K phạm tội “Đánh bạc”.
* Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 04 ngày (từ ngà 17/7/2020 đến ngày 21/4/2020) quy đổi bằng 12 ngày Cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 18 (mười tám) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Y, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhi m phối hợp với chính quyền địa phương trong vi c giám sát, giáo dục bị cáo.
Hủy bỏ l nh cấm đi khỏi nơi cư tr số 71/2020/HSST-LCCT ngày 12/10/2020 của TAND huy n Thanh Thủ đối với bị cáo.
- Bị cáo Kiều Hồng M 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 04 ngày (từ ngà 17/7/2020 đến ngày 21/4/2020) quy đổi bằng 12 ngày Cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14(mười bốn) tháng 18(mười tám) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Y, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhi m phối hợp với chính quyền địa phương trong vi c giám sát, giáo dục bị cáo.
Hủy bỏ l nh cấm đi khỏi nơi cư tr số 72/2020/HSST-LCCT ngày 12/10/2020 của TAND huy n Thanh Thủ đối với bị cáo.
- Bị cáo Bùi Văn H 12(mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 04 ngày (từ ngà 17/7/2020 đến ngày 21/4/2020 ) qu đổi bằng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11(mười một) tháng 18(mười tám) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Y, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhi m phối hợp với chính quyền địa phương trong vi c giám sát, giáo dục bị cáo.
Hủy bỏ l nh cấm đi khỏi nơi cư tr số 73/2020/HSST-LCCT ngày 12/10/2020 của TAND huy n Thanh Thủ đối với bị cáo.
- Bị cáo Phan Văn K 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 04 ngày (từ ngà 17/7/2020 đến ngày 21/4/2020) qu đổi bằng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 18 (mười tám) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã E, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã E, huy n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhi m phối hợp với chính quyền địa phương trong vi c giám sát, giáo dục bị cáo.
Hủy bỏ l nh cấm đi khỏi nơi cư tr số 74/2020/HSST-LCCT ngày 12/10/2020 của TAND huy n Thanh Thủy đối với bị cáo.
* Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Miễn hình phạt bổ sung theo qu định tại Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H, Phan Văn K.
* Về nghĩa vụ lao động phục vụ cộng đồng: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H, Phan Văn K trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ phải thực hi n một số công vi c lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2,3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu số tiền 7.870.000đ(bảy triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. Trong đó của bị cáo Nguyễn Văn T 2.750.000đ; của bị cáo Kiều Hồng M 1.350.000đ; của bị cáo Bùi Văn H 2.370.000đ; của bị cáo Phan Văn K 1.400.000đ.
- Tịch thu 01 chiếu nhựa màu đỏ in hoa văn màu xanh; 04 miếng đ m bằng vải nhung màu đỏ kích thước 60x60 cm; 52 quân bài t lơ khơ từ A đến K của bị cáo Ngu ễn Văn T để tiêu hủ .
- Tịch thu 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung J7 Pro màu đen đã cũ của bị cáo Kiều Hồng M; 01 đi n thoại di động nhãn hi u Redmi Note6 Pro màu đen đã cũ của bị cáo Phan Văn K; 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung Galaxy A20 màu đen đã cũ của bị cáo Ngu ễn Văn T để bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủ các thẻ sim có số thuê bao 0963.098.038 của bị cáo Kiều Hồng M; 0359.969.969 của bị cáo Phan Văn K; 0969.829.773 của bị cáo Ngu ễn Văn T.
- Trả lại cho: bị cáo Phan Văn K 01 thẻ sim có số thuê bao 0355.155.999 được lắp trong ĐTDĐ hi u Redmi Note6 Pro màu đen trên; bị cáo Kiều Hồng M 01thẻ sim có số thuê bao 0981.094.659 được lắp trong ĐTDĐ nhãn hi u Samsung J7 Pro màu đen trên.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2020.
- Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Thủ đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản là hợp pháp:
+ Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 đi n thoại di động nhãn hi u Iphone 6 Plus màu hồng đã cũ lắp sim số 0988.675.363, 01 bộ bài t lơ khơ chưa qua sử dụng, 02 bộ bài t lơ khơ đã qua sử dụng;
+ Trả lại cho Kiều Hồng M số tiền 19.000.000đ 01 ví giả da màu đen và 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Wave màu trắng - đen - bạc đã cũ BKS 19L1 - 159.12;
+ Trả lại cho Bùi Văn H 01 đi n thoại di động nhãn hi u OPPO A1K màu đen đã cũ lắp sim số 0987.252.977 và 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Blade màu đỏ - đen đã cũ BKS 19L1 - 148.69;
+ Trả lại cho Phan Văn K số tiền 6.900.000đ 01 xe mô tô nhãn hi u Honda SH mode màu vàng - nâu đã cũ BKS 19L1 - 194.43 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung Galax M10 màu đen đã cũ lắp sim số 0368.843.582.
* Về án phí: Căn cứ Khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội về án phí, l phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Kiều Hồng M, Bùi Văn H và Phan Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huy n Thanh Thuỷ, - VKSND tỉnh Phú Thọ; - CA huy n Thanh Thuỷ; - UBND xã Y, E; - Chi cục THADS huy n Thanh Thuỷ, - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - THAHS; - Lưu HS VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Viết Tú |