- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thu Hà phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
N NH N N
NG H
H
HỦ NGH
N M
NH H
NH
Đ c
– do – H nh h c B n án s : 51/2020/HS-ST
Ngày: 16-10-2020
NHÂN DANH
N
NG H
H
HỦ NGH
N M
N NH N N NH H
NH
Thành h n ội đồng t
ơ th m gồm :
-
m p n - C t p n t : Bà Nguyễn Thị Dụ
- m p n:
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
- C
t m n n n:
Ông Quách Minh Nhiên
Bà Phan Thị Bích
Ông Nguyễn Trần Phương
- Thư
hiên t a: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình
- i di n i n i m át nhân dân t nh a Bình tham gia hiên t a: Ông Nguyễn Xuân Khôi - Ki m sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2020 tại trụ s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, xét x sơ th m công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý s 57/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x s : 58/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 đ i với bị cáo:
Lê Thu H, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1985 tại Hòa Bình.
Nơi cư trú: S nhà 37, tổ 2, phường P, thành ph H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lê Thế H và bà Trần Thị L Thanh; có chồng là Trần Văn T (đã ly hôn); có 03 con (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh ngày 21/02/2020); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “có mặt”.
-
o
o
o: Bà Lê Thị H i T, Luật sư, văn phòng Luật sư H thuộc đoàn Luật sư tỉnh Hòa Bình. Địa chỉ: S nhà 18, tổ 8, phường Đ, thành ph H, tỉnh Hòa Bình; “có mặt”.
- B ạ : Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn đầu tư tài chính M; địa chỉ: S 807, tổ 5, phường T, thành ph H, tỉnh Hòa Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh C, sinh năm 1977 - Giám đ c công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh D, sinh năm 1990, Giám đ c chi nhánh H thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn đầu tư tài chính M; địa chỉ: S nhà 03, đường L, tổ 26, phường C, thành ph H, tỉnh Hòa Bình; “có mặt”.
-
ó quyền lợ n ĩ vụ l n qu n:
Bà Trần Thị H, sinh năm 1987; hộ kh u thường trú: S nhà 20, tổ 15, phường T, thành ph H, tỉnh Hòa Bình. Chỗ : S nhà 186, tổ 23, phường T, thành ph H, tỉnh Hòa Bình; “có mặt”.
Ông Lê Minh C, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ 5, phường T, thành ph H, tỉnh Hòa Bình; “có mặt”.
N
UNG Ụ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có m i quan hệ quen biết từ trước nên Lê Thu H thường xuyên thuê xe ô tô của Công ty trách nhiệm hữu hạn tư vấn đầu tư tài chính M - Chi nhánh H do Nguyễn Anh D làm Giám đ c đ phục vụ mục đích cá nhân.
Ngày 12/11/2018, Lê Thu H liên lạc thông qua zalo với anh Nguyễn Anh D hỏi thuê xe ô tô 4 chỗ đ làm phương tiện đi lại, Nguyễn Anh D đồng ý và thỏa thuận tiền thuê xe theo ngày là 600.000đ/ngày; H đồng ý. Ngày 14/11/2018, Nguyễn Anh D lái xe ô tô BKS 28A-065.87 đến khu vực Cổng chữ A thuộc xã S, thành ph H, tỉnh Hòa Bình đ giao xe và giấy tờ xe cho H (Giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TP Bank; Giấy chứng nhận b o hi m ô tô; Giấy chứng nhận ki m định). Việc thuê xe ô tô không ký hợp đồng thuê xe mà chỉ trao đổi bằng miệng. Khi giao xe có sự chứng kiến của chị Lê Thùy L (em gái ruột của H, sinh năm 1993, trú tại: tổ 2, phường P, thành ph H, tỉnh Hòa Bình). Đến ngày 17/11/2018, Lê Thu H trao đổi với anh D qua Zalo về việc H mu n đổi từ thuê xe theo ngày thành thuê xe theo tháng, anh D đồng ý, hai bên th ng nhất thuê xe theo tháng với giá 15.000.000đ/tháng, thời hạn thuê tính từ ngày 14/11/2018.
Ngày 13/12/2018 Lê Thu H trao đổi với anh D về việc gia hạn thuê chiếc xe ô tô BKS 28A-06587 thêm 01 tháng tính từ ngày 14/12/2018, anh D đồng ý. Sau đó, do cần tiền đ chi tiêu cá nhân nên Lê Thu H đã n y sinh ý định bán chiếc xe ô tô BKS 28A-06587. Xe ô tô H thuê thuộc quyền s hữu của anh Lê Minh C, sinh năm 1977, trú tại tổ 5, phường T, thành ph H, tỉnh Hòa Bình, vì vậy, H đã viết Giấy ủy quyền với nội dung: “Lê Minh C y quyền o Lê Thu H mua bán xe ô tô số m y G4HFGJH699327, số k un 41M6JC127149” và gi chữ ký của anh Lê Minh C. Sau đó, H cầm các giấy tờ xe mà trước đó anh D đưa và Giấy ủy quyền do H tự làm mang đến nhà chị Trần Thị H, sinh năm 1987, trú tại: tổ 15, phường T, thành ph H, tỉnh Hòa Bình trao đổi về việc bán chiếc xe ô tô BKS 28A-065.87 với giá 70.000.000đ. Do tin tư ng H được chủ s hữu xe ủy quyền trong việc mua bán nên chị H đồng ý mua chiếc xe trên và yêu cầu H viết giấy bán xe với nội dung “Lê Thu H bán xe ô tô BKS 28A-065.87 o
rần
H vớ
70.000.000đ” và hẹn 60 ngày sau nếu H có nhu cầu sẽ đến đ mua lại chiếc xe. Sau khi lấy được tiền bán xe, H chi tiêu cá nhân hết.
Do đã hết thời hạn thuê xe nhưng không thấy H tr xe và tiền thuê xe còn nợ nên anh D không đồng ý cho H thuê xe nữa. Sau khi đòi xe nhiều lần không được, anh D dùng hệ th ng GPRS định vị xe, xác định thấy xe ô tô BKS 28A-06587 không di chuy n và qua các m i quan hệ xã hội biết Lê Thu H đã bán chiếc xe ô tô trên. Ngày 30/01/2019 anh Nguyễn Anh D đã trình báo về sự việc trên đến Cơ quan Công an phường C, thành ph H, tỉnh Hòa Bình.
Ngày 18/3/2019, Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình sự thành ph H có b n Kết luận định giá tài s n trong t tụng hình sự s 21 kết luận: “01 xe ô tô on n ãn ệu K , số loạ Cer to, ển k ểm so t 28A-065.87, m u sơn đỏ, số máy G4HFGJH699327, số k un 41M6JC127149, tìn trạn đã qu sử ụn . G t sản 529.000.000đ”.
Ngày 31/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an tỉnh Hòa Bình có b n Kết luận giám định s 104 kết luận: “C ký “C” v
v ết t n Lê Minh C ớ mụ
y quyền tr n G ấy y quyền n y 13/12/2018 vớ
ký,
v ết đứn t n Lê Minh C tr n
t l ệu mẫu so s n k ôn p ả o ùn m t n
ký v v ết r ”.
Cơ quan điều tra thu giữ của chị Trần Thị H: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA CARATO, BKS 28A-06587, màu sơn đỏ; 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TP Bank; 01 (một) Giấy chứng nhận b o hi m ô tô; 01 (một) Giấy chứng nhận ki m định; 01 (một) Giấy ủy quyền; 01 (một) Giấy bán xe. Ngày 25/10/20119, Cơ quan CSĐT Công an thành ph H đã ra Quyết định x lý vật chứng, tr cho chủ s hữu là anh Lê Minh C chiếc xe ô tô BKS 28A-065.87, 01 (một) Giấy chứng nhận ki m định, 01 (một) Giấy chứng nhận b o hi m xe ô tô.
Tại b n Cáo trạng s 42/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 6 năm 2020 của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy t Lê Thu H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài s n theo kho n 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Thu H khai nhận: Ngày 14/11/2018 bị cáo thuê xe ô tô Cerato BKS 28A-065.87 của Công ty, thuê xe theo ngày và hai bên không lập thành văn b n. Ngày 13/12/2018 bị cáo liên lạc với anh D là đại diện Công ty gia hạn thuê xe và chuy n sang thuê xe ô tô theo tháng, tính từ ngày 14/12/2018; anh D đồng ý; cùng ngày 13/12/2018 bị cáo H đã bán xe ô tô đang thuê cho chị Trần Thị H lấy 70.000.000 đồng. Bị cáo khai giấy tờ xe ô tô mang tên anh Lê Minh C nên bị cáo đã viết giấy ủy quyền có nội dung anh Lê Minh C (chủ phương tiện) ủy quyền cho bị cáo bán chiếc xe ô tô nói trên. Phía chị Trần Thị H tin là thật đã mua xe của bị cáo.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại (công ty M, chi nhánh H) trình bày: Cơ quan điều tra đã thu xe ô tô Cerato và tr cho chủ xe Lê Minh C. Bị cáo H còn nợ tiền thuê xe của Công ty 8.400.000 đồng không yêu cầu bị cáo ph i hoàn tr .
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Minh C trình bày: Xe ô tô nhãn hiệu Cerato bi n s 28A-065.87 thuộc quyền s hữu của anh, đăng ký xe mang tên anh; anh mua xe tháng 06/2018 giá 700.000.000 đồng; anh đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị H trình bày: Ngày 13/12/2018 bị cáo H bán xe ô tô hiệu Cerato bi n ki m soát 28H- 065.87 cho chị; sau khi ki m tra thấy giấy tờ đăng ký xe mang tên chủ xe Lê Minh C, có văn b n ủy quyền bán xe ô tô của chủ xe Lê Minh C nên chị đồng ý mua xe ô tô với giá 70.000.000 đồng. Chị đã giao đủ s tiền 70.000.000 đồng cho bị cáo H. Cơ quan điều tra đã thu xe ô tô, bị cáo H đã thanh toán cho chị 40.000.000 đồng, còn 30.000.000 đồng không yêu cầu bị cáo ph i hoàn tr .
Trình bày lời luận tội tại phiên tòa, đại diện Viện ki m sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy t . Sau khi đánh giá tính chất mức độ, hậu qu của hành vi do bị cáo thực hiện, tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn h i c i; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân t t, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự bị cáo là phụ nữ có thai, khi xét x đang nuôi con nhỏ 07 tháng tuổi; hoàn c nh gia đình bị cáo khó khăn, vợ chồng ly hôn, một mình bị cáo nuôi 03 con còn nhỏ. Đề nghị áp dụng kho n 4 Điều 175; đi m n, s kho n 1, kho n 2, Điều 51; Điều 38 BLHS; x phạt Lê Thu H từ 12 đến 13 năm tù.
Trình bày lời bào chữa cho bị cáo, Luật sư nhất trí với cáo trạng của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy t Lê Thu H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài s n theo kho n 4 Điều 175 BLHS; đồng tình với đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc áp dụng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo đi m n, s kho n 1, kho n 2, Điều 51 BLHS; luật sư đề nghị x phạt bị cáo mức án thấp hơn mức án đại diện Viện ki m sát đề nghị. Lời đề nghị của Luật sư được Hội đồng xét x xem xét kỹ lưỡng trong khi nghị án.
NHẬN ĐỊNH Ủ TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] Tài liệu hồ sơ th hiện, về hành vi, quyết định t tụng của cơ quan c nh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình trong quá trình tiến hành t tụng, của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, Ki m sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia t tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khác của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện là đúng quy định.
[2] Bị cáo Lê Thu H khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung b n Cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng (ô tô) được thu giữ, kết luận giám định chữ viết, chữ ký trong giấy ủy quyền, kết luận định giá tài s n cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ s xác định: Sau khi thuê được xe ô tô nhãn hiệu Cerato BKS 28A-065.87 của Công ty, Lê Thu H đã có hành vi gian d i là viết giấy ủy quyền mang tên chủ s hữu xe ô tô về việc chủ xe ủy quyền cho bị cáo bán xe ô tô; bị cáo H đã bán xe chiếm đoạt s tiền 70.000.000 đồng đ chi tiêu cá nhân. Hành vi do Lê Thu H thực hiện cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài s n. Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Cerato BKS 28A-06587 định giá là 529.000.000 đồng. Cáo trạng của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy t Lê Thu H về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài s n theo kho n 4 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo Lê Thu H có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi do bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật. Song do coi thường pháp luật bị cáo c ý thực hiện tội phạm. Tội phạm do bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền s hữu tài s n của người bị hại, gây bức xúc đ i với các đương sự, do đó cần ph i x thật nghiêm.
[4] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn h i c i; trong thời gian điều tra bị cáo có thai, hiện đang nuôi con nhỏ 07 tháng tuổi; trước khi phạm tội có nhân thân t t, chưa có tiền án tiền sự; vợ chồng bị cáo đã ly hôn, bị cáo nuôi 03 con nhỏ; xe ô tô đã được thu hồi tr cho người bị hại; tại phiên tòa phía Công ty đề nghị gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại đi m n, s kho n 1 kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét x quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, x phạt bị cáo mức án dưới kho n 4 Điều 175 BLHS là phù hợp. Quan đi m của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị x phạt bị cáo mức án thấp hơn đại diện Viện ki m sát đề nghị là có cơ s và được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, đại diện Công ty không yêu cầu bị cáo ph i hoàn tr s tiền thuê xe còn nợ 8.400.000đ; chị Trần Thị H không yêu cầu bị cáo ph i hoàn tr s tiền 30.000.000 đồng. Xét thấy, việc các đương sự tự nguyện không yêu cầu bị cáo ph i thanh toán là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét x chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo Lê Thu H ph i chịu án phí hình sự sơ th m theo quy định của pháp luật.
Vì
lẽ tr n;
QU
ĐỊNH:
ề t i danh: Tuyên b Lê Thu H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài s n”.
ề điều u t á dụng: Căn cứ kho n 4 Điều 175; đi m n, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; kho n 2 Điều 135 BLTTHS, đi m a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
ề hình h t: X phạt Lê Thu H 11 (m m t) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
ề trách nhiệm dân s : Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự:
Công ty M không yêu cầu bị cáo Lê Thu H ph i tr s tiền 8.400.000 đồng.
Chị Trần Thị H không yêu cầu bị cáo Lê Thu H ph i tr s tiền 30.000.000 đồng.
ề án hí: Bị cáo Lê Thu H ph i nộp 200.000đ ( trăm n ìn đồn ) án phí hình sự sơ th m.
ề quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC; VKSNDCC; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Công an tỉnh Hòa Bình; - Cục Thi hành án tỉnh Hòa Bình; - S Tư pháp; - Bị cáo; - Bị hại; - Người bào chữa; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ; Tổ Hành chính tư pháp. | M. H ĐỒNG É Ử SƠ HẨM HẨM PHÁN - HỦ Ọ PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn hị ụ |