vanban.org

Bản án 51/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh V 03 (ba) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù t nh từ ng y 30/11/2019.

Phạt bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đ ng nộp v o ngân sách Nh nước. Tịch thu tiêu hủy các gói niêm phong ghi v số 2144/2019 G1 v 2144/2019 G2 bên ngo i có dấu vân tay ghi tên Nguyễn Tấn Đ các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh V, Nguyễn Ngọc T hình dấu Công an Phường 15 Qu n 8 v chữ ký giám định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thị Thanh V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh V 03 (ba) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù t nh từ ng y 30/11/2019.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2020/HS-ST
Ngày 13 - 5 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Năm

Bà Nguyễn Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2020 tại tr s Tòa án nhân dân Qu n 8 Th nh phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 29/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 49/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh V; sinh ngày 03 tháng 02 năm 1985 tại Th nh phố H Ch Minh; nơi cư trú: 29/8/15 B Phường 15 Qu n 8 Th nh phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ph và bà Dương Thị Bạch Y; ch ng con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 17/6/2014, Tòa án nhân dân qu n Bình Tân Th nh phố H Ch Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp gi t t i sản”. Chấp h nh xong bản án ng y 26/6/2016.

Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ng y 30/11/2019 đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Tấn Đ sinh năm 1987; nơi cư trú: 149/11/4 L Phường 15 Qu n 8 Th nh phố H Ch Minh. (vắng mặt)

2. Chị Nguyễn Thị Thanh H sinh năm 1971; nơi cư trú: 149/11/4 L Phường 15 Qu n 8 Th nh phố H Ch Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong h sơ v án v diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

V o lúc 14 giờ 45 phút ng y 30/11/2019 Công an Phường 15 Qu n 8 Th nh phố H Ch Minh tuần tra đến trước số 10/1A B Phường 15 Qu n 8 thì phát hiện Nguyễn Thị Thanh V v Nguyễn Tấn Đ. Do nghi vấn cả hai có liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Lúc n y khi thấy Công an Đ bỏ chạy nên Tổ tuần tra đuổi theo đến trước số 20/17/14B N Phường 15 Qu n 8 thì giữ được Đ. Qua kiểm tra Công an phát hiện v thu giữ trong b n hoa cạnh nơi V đứng 01 gói nylon chứa tinh thể không m u v phát hiện dưới đất gần nơi V đứng 01 gói nylon chứa chất bột m u trắng; 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột m u trắng; 01 gói giấy bạc chứa chất bột m u trắng (V khai nh n tinh thể không màu và bột m u trắng l ma túy của V dùng để bán). Ngo i ra Công an còn tạm giữ của V 01 điện thoại di động hiệu Nokia; tạm giữ của Đ 01 điện thoại di động hiệu Iphone và 01 xe gắn máy biển số 52Z4-2198. V việc được đưa về tr s Công an phường l p biên bản bắt người phạm tội quả tang sau đó chuyển giao đến Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 điều tra l m rõ.

Tại bản Kết lu n giám định số 2144/KLGĐ-H ng y 09/12/2019 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an Th nh phố H Ch Minh kết lu n:

- Gói 01: Tinh thể không màu trong một gói nylon là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,1828g (không phẩy một tám hai tám gam), loại Methamphetamine.

- Gói 2: 01 gói nylon chứa:

+ Tinh thể không màu trong 06 gói nylon là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,5338g (không phẩy năm ba ba tám gam), loại Methamphetamine.

+ Bột màu trắng trong 01 gói nylon là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,2713g (không phẩy hai bảy một ba gam), loại Heroine.

+ Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,0607g (không phẩy không sáu không bảy gam), loại Heroine.

+ Bột màu trắng trong 01 gói giấy bạc là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,0647g (không phẩy không sáu bốn bảy gam), loại Heroine.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thị Thanh V khai nh n: Do cần tiền tiêu x i v có ma túy để sử d ng nên V nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy. Khoảng 14 giờ ng y 30/11/2019 V đi bộ từ nh số 10/5 B Phường 15 Qu n 8 đến khu vực ngã ba đường C - H Phường 14 Qu n 8 tìm mua ma túy để bán. Vân đi v o con hẻm mé bờ sông gặp v mua của một người thanh niên tên Nh (không rõ lai lịch) 07 gói ma túy tổng hợp với giá 350.000 đ ng (mỗi gói giá 50.000 đ ng) và mua 01 gói nylon, 01 ống nhựa v 01 gói giấy bạc (đều chứa heroine) với tổng số tiền 300.000 đ ng, các gói ma túy được để v o 01 gói nylon. Mua được ma túy V giấu v o trong túi quần sau đó đi bộ về trước nh số 10/5 B, Phường 15 Qu n 8 chờ có người liên hệ mua thì bán. Mỗi gói ma túy tổng hợp V bán với giá 80.000 đ ng thu lời 30.000 đ ng/gói; 01 gói giấy bạc chứa heroine V bán với giá 50.000 đ ng; 01 đoạn ống nhựa chứa heroine V bán với giá 50.000 đ ng còn 01 gói nylon chứa heroine V bán với giá 300.000 đ ng.

Khoảng 14 giờ 45 phút, cùng ng y 30/11/2019 Nguyễn Tấn Đ (bạn của V) điều khiển xe gắn máy biển số 52Z4-2198 đi đến trước số 10/1A B, Phường 15 Qu n 8 để ch V đi ăn. Khi V chuẩn bị lên xe của Đ thì bị Tổ tuần tra Công an nghi vấn kiểm tra. Thấy Công an nên V ném ma túy xuống đất thì bị Công an phát hiện thu giữ ma túy như trên. Cùng phương thức mua v bán ma túy như trên t nh đến thời điểm bị bắt quả tang V khai đã mua bán trái phép chất ma túy được khoảng một tuần thu lợi khoảng 300.000 đ ng đã tiêu x i cá nhân hết.

Anh Nguyễn Tấn Đ khai anh v bị cáo V quen biết v có quan hệ tình cảm với nhau. Ng y 30/11/2019 anh Đ mượn xe gắn máy biển số 52Z4-2198 của chị ruột l Nguyễn Thị Thanh H để đi công việc sau đó anh Đ hẹn đến ch bị cáo V đi ăn khi đến gặp V chưa kịp đi thì V bị Công an bắt quả tang đ ng thời Công an tạm giữ xe của Đ. Chị Nguyễn Thị Thanh H khai xe trên chị mua của một người đ n ông tên T (không rõ lai lịch) tại Qu n 8 vào tháng 11/2019 khi mua bán không l m giấy tờ. Ng y 30/11/2019 chị cho anh Đ mượn xe đi công việc chị không biết Đ dùng xe đi gặp bị cáo V. Chị H yêu cầu được nh n lại xe biển số 52Z4-2198 anh Đ cũng đề nghị được nh n lại xe để trả xe cho chị H. Qua xác minh, xe do anh Trần Thanh V đứng tên chủ s hữu anh V khai đã bán lại xe cho người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) v o năm 2016 nhưng không l m thủ t c sang tên. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã có văn bản đăng tin trên báo để tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe nhưng đến nay chưa có kết quả.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 18/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Th nh phố H Ch Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Th nh phố H Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ của h nh vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng khoản 1 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù v phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đ ng đến 10.000.000 đ ng. Về v t chứng thu giữ đề nghị áp d ng Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Điều 106 của Bộ lu t tố t ng hình sự tuyên xử lý theo quy định pháp lu t.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n h nh vi phạm tội ăn năn hối cãi v xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ v o các t i liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về h nh vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố v tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các h nh vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến h nh tố t ng người tiến h nh tố t ng. Do đó các h nh vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến h nh tố t ng người tiến h nh tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nh n h nh vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người l m chứng v các t i liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định vào lúc 14 giờ 45 phút, ngày 30/11/2019 tại trước số 10/1A B, Phường 15 Qu n 8 Th nh Phố H Ch Minh bị cáo Nguyễn Thị Thanh V có h nh vi cất giữ trái phép ma túy thể rắn, có khối lượng 0,7166 gam, loại Methamphetamine v 0 3967 gam loại Heroine m c đ ch để bán thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”

Bị cáo l người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện h nh vi với lỗi cố ý đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nh nước về các chất ma túy v an to n xã hội. Như v y Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định h nh vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh V đã đủ yếu tố cấu th nh tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm v hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

H nh vi phạm tội của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội phạm m bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr th nh người có ch có ý thức tuân theo pháp lu t v các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa v đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Năm 2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân qu n Bình Tân Th nh phố H Ch Minh kết án 03 năm tù về tội “Cướp gi t t i sản”. Mặc dù không xem l án t ch nhưng khi lượng hình Hội đ ng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân bị cáo.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” l có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt m Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của h nh vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên quá trình điều tra truy tố v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai báo ăn năn hối cãi nên Hội đ ng xét xử áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung xét h nh vi phạm tội của bị cáo l nhằm thu lợi bất ch nh nên Hội đ ng xét xử áp d ng hình phạt bổ sung l phạt tiền đối với bị cáo.

Về v t chứng v án quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong gói niêm phong số 2144/2019 G1 và 2144/2019 G2 xét đây l v t cấm t ng trữ lưu h nh nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u trắng tạm giữ của bị cáo Vân xét l t i sản của bị cáo không liên quan đến h nh vi phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự trả lại cho bị cáo.

- 01 xe gắn máy biển số 52Z4-2198 tạm giữ của anh Nguyễn Tấn Đ, qua xác minh xe do anh Trần Thanh V đứng tên chủ s hữu anh V khai đã bán lại xe cho người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) v o năm 2016 nhưng không l m thủ t c sang tên như v y anh V không còn quyền lợi liên quan đến chiếc xe n y. Chị Nguyễn Thị Thanh H khai mua xe trên từ người người đ n ông tên T (không rõ lai lịch) tại Qu n 8 v o tháng 11/2019 không l m giấy tờ mua bán sau đó cho anh Đ mượn sử d ng việc Đ điều khiển xe đến gặp bị cáo V chị H không biết. Xét thấy anh Đ không liên quan đến h nh vi phạm tội của bị cáo đ ng thời tại thời điểm Công an bắt quá tang bị cáo anh Đ cũng không dùng xe ch bị cáo. Tương tự 01 điện thoại di động hiệu Iphone m u trắng tạm giữ của anh Đ cũng không liên quan đến h nh vi phạm tội của bị cáo. Như v y chiệc xe gắn máy biển số 52Z4-2198 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone m u trắng không phải v t chứng trong v án n y cần phải giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 để xử lý theo quy định pháp lu t.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nh n cùng phương thức mua và bán ma túy như đã khai t nh đến thời điểm bị bắt quả tang bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy được khoảng một tuần thu lợi khoảng 300.000 đ ng v đã tiêu x i cá nhân hết. Tuy nhiên ngo i lời khai của bị cáo thì không còn chứng cứ n o khác để truy cứu hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã thực hiện trước khi bị bắt quả tang cũng như không có căn cứ để xác định số tiền thu lợi bất ch nh như bị cáo khai.

Mặc dù anh Nguyễn Tấn Đ có mặt tại thời điểm bị cáo V bị bắt quả tang nhưng qua điều tra đã xác định được không liên quan đến h nh vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra không xử lý l phù hợp quy định pháp lu t.

Đối với người thanh niên tên Nh bán ma túy cho bị cáo do không xác định được lai lịch quá trình điều tra không đưa v o tham gia tố t ng nên Hội đ ng xét xử không xem xét trong v án n y.

Về án ph hình sự: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ v o khoản 1 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh V 03 (ba) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù t nh từ ng y 30/11/2019.

Phạt bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đ ng nộp v o ngân sách Nh nước.

- Căn cứ v o Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; các điều 221 228 của Bộ lu t Dân sự.

Tịch thu tiêu hủy các gói niêm phong ghi v số 2144/2019 G1 v 2144/2019 G2 bên ngo i có dấu vân tay ghi tên Nguyễn Tấn Đ các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh V, Nguyễn Ngọc T hình dấu Công an Phường 15 Qu n 8 v chữ ký giám định viên Võ Anh T;

Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia m u trắng có gắn sim số 0792025203 số Imei 1: 353407097623961 số Imei 2: 358567088045964 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy).

Giao 01 (một) xe gắn máy biển số 52Z4-2198 số máy: 5VD128269 số khung: RLCN5VD104Y028269 v 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone m u trắng có gắn sim số 0923752180 bị vỡ nát nhiều chỗ mặt sau (không kiểm tra tình trạng bên trong máy), cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 để xử lý theo quy định pháp lu t.

(Tất cả theo Phiếu nh p kho v t chứng số 15/PNK ngày 07/01/2020).

- Căn cứ v o các điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh V nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án vắng mặt tại phiên to có quyền kháng cáo trong hạn 15 ng y t nh từ ng y nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ