vanban.org

Bản án 51/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 14/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/06/2020. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dương - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 51/2020/HS-ST
Ngày: 14/9/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Minh Lực.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lưu Danh Sử.

- Ông Nguyễn Văn Phiếu.

Thƣ ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 14/9/2020 tại Trụ Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tiến hành mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2020/HSST ngày 04/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HS ngày 01/9/2020 đối với bị cáo:

Hä vµ tªn: Nguyễn Văn D, năm sinh 1983; Giới tính: Nam;Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn R, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị V; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 06/06/2020, chuyển tạm giam ngày 08/06/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; bị cáo có mặt.

- Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1985. Trú tại thôn R, xã P, huyện N - Có mặt.

- Ngƣời làm chứng: Ông Cao Văn T, sinh năm 1962; anh Phạm Văn L, sinh năm 1985. (Tất cả vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn D là người nghiện ma túy; khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/6/2020 D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 35N1-300.45 từ nhà đi đến xã V, huyện N để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đi đến khu vực thôn Đ, xã V, huyện N, Nguyễn Văn D đã gặp một người nam giới (D không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở ven đường trông giống người nghiện ma túy. D đi lại gần người nam giới và hỏi:“Anh có hàng không bán cho em một quả” - Ý D muốn hỏi mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Người nam giới đồng ý và nói với D: “Có, đưa tiền đây”. Nguyễn Văn D lấy ra trong người số tiền 200.000 đồng đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa cho D 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy nilon màu trắng, tiếp theo là lớp giấy bạc màu vàng, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng. Nguyễn Văn D mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên đã gói lại rồi cầm gói Heroine vừa mua được trên tay điều khiển xe mô tô đi về đến khu vực đường liên thôn thuộc địa phận thôn P, xã V, huyện N. Do trời nắng nóng nên D đã dừng xe mô tô tại ven đường để nghỉ ngơi.

Hồi 11 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Văn D đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 35N1-300.45 đã gặp Tổ công tác Công an xã V và Công an xã P đang làm nhiệm vụ phối hợp tuần tra đi đến. Do sợ bị phát hiện đang cất giấu trái phép Heroine trên người nên Nguyễn Văn D đã ném từ trên tay trái của mình gói Heroine xuống mặt đường ngay tại vị trí D dựng xe mô tô đã bị Tổ Công tác yêu cầu nhặt lên kiểm tra. Tổ Công tác đã lập biên bản và thu giữ của Nguyễn Văn D 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy nilon màu trắng, tiếp theo là lớp giấy bạc màu vàng, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng. Nguyễn Văn D khai nhận đó là gói Heroine của mình vừa mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 35N1-300.45 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen lắp sim số 0969.158.640.

Cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nilon màu trắng, tiếp theo là lớp giấy bạc màu vàng thu giữ của Nguyễn Văn D có khối lượng 0,16 gam ký hiệu M để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 143/KLGĐ-PC09-MT ngày 08/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1564 (không phẩy một nghìn năm trăm sáu mươi bốn) gam, là ma túy, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0887 gam, là mua túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định của pháp luật, trên mặt phong bì có ghi số 143/KLGĐ-PC09-MT.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSNQ ngày 4 tháng 08 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” - Quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D - phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 06/06/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn D vì hành vi tàng trữ Heroine của bị cáo không nhằm mục đích vụ L.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: 0,0887 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì theo quy định của pháp luật trên mặt phong bì ghi số 143/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong bên trong có que thử nước tiểu của Nguyễn Văn D và 01 phong bì niêm phong phong bì, vỏ gói ban đầu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo. Không có khiếu nại gì về Kết luận giám định số 143/KLGĐ-PC09-MT ngày 08/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.

Bị cáo, người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản Luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo D không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Nội dung của bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo; Phù hợp với lời khai của bị cáo và người làm chứng cùng các vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đã có đủ chứng cứ xác định: Khoảng 11 giờ ngày 06/06/2020 tại khu vực đường liên thôn thuộc địa phận thôn P, xã V, huyện N. Tổ công tác Công an xã V và Công an xã P đang làm nhiệm vụ phối hợp tuần tra đã phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,1564 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do sợ bị phát hiện đang cất giấu trái phép Heroine trên người nên Nguyễn Văn D đã ném từ trên tay trái của mình xuống mặt đường ngay vị trí D dựng xe mô tô đã bị Tổ công tác yêu cầu nhặt lên để kiểm tra.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,1564 gam Heroine của bị cáo Nguyễn Văn D nhằm mục đích sử dụng cho bản thân đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Là một trong các nguyên nhân dẫn đến tội phạm và tệ nạn xã hội khác, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Từ những quy định của pháp luật hình sự, Hội đồng xét xử xác định đã có đủ cơ sở pháp lý khẳng định: Hành vi, tội danh và các điểm, khoản, điều luật áp dụng tại bản Cáo trạng, bản Luận tội và các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi mà bị cáo Nguyễn Văn D thực hiện đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do đó phải xử lý nghiêm minh bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải tiếp tục cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra để góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã căn cứ vào quy định của pháp luật hình sự để cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhận thấy.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu vào ngày 25/11/2018 bị cáo Nguyễn Văn D bị Công an huyện N ra quyết định số 06/QĐ - XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cảnh cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo D đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo được giảm một phần về hình phạt.

3. Các vấn đề khác: Trong vụ án này, kết quả điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người nam giới đã bán Heroine cho Nguyễn Văn D nên không có căn cứ để xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo Nguyễn Văn D, vì bị cáo là người nghiện ma túy mua Heroine chỉ nhằm mục đích sử dụng.

Về vật chứng của vụ án và tài sản đã thu giữ: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 35N1-300.45 thu giữ của Nguyễn Văn D. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị V (vợ D). Chị V không biết việc D sử dụng xe mô tô của mình đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị V là phù hợp. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen lắp sim số 0969.158.640 thu giữ của Nguyễn Văn D đã xác định là tài sản hợp pháp của D không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại chiếc điện thoại lắp sim trên cho chị Nguyễn Thị V (vợ D) theo sự ủy quyền của D là phù hợp với quy định của pháp luật. .

Đối với 0,0887 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì theo quy định của pháp luật trên mặt phong bì ghi số 143/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong bên trong có que thử nước tiểu của Nguyễn Văn D và 01 phong bì niêm phong phong bì, vỏ gói ban đầu là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy đinh của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/06/2020.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,0887 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì theo quy định của pháp luật trên mặt phong bì ghi số 143/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong bên trong có que thử nước tiểu của Nguyễn Văn D và 01 phong bì niêm phong phong bì, vỏ gói ban đầu.(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện N và Công an huyện N).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn D, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ