- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "HD VAY TS"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2020/DS-ST Ngày: 29-7-2020 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
2. Bà Đinh Kim Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 325/2019/TLST-DS ngày 26/7/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2020/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông;
Trụ sở: 41-45 Lê Duẩn, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tôn Ngọc Chung, địa chỉ: 41-45 Lê Duẩn, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 48/2020/UQ-OCB ngày 11/5/2020) “vắng mặt, có đơn xin vắng mặt”
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh Phúc, sinh năm 1976;
Địa chỉ: 129F/186/12A/2 Bến Vân Đồn, Phường 4, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các bản tự khai, đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ông Lê Thanh Phúc có ký Hợp đồng tín dụng số 0013/2016/HĐTD-CN ngày 27/01/2016 và Khế ước nhận nợ số 0013/2016-OCB/KƯNN-CN ngày 28/01/2016 với nguyên đơn vay số tiền 35.000.000 đồng với lãi suất 7,91%/năm để tiêu dùng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn, thời hạn vay 36 tháng (tương đương 36 kỳ trả nợ).
Thực hiện hợp đồng, ông Phúc đã thanh toán được 10 kỳ trả nợ gốc với số tiền là 9.700.000 đồng. Kể từ ngày 05/01/2017 thì ông Phúc không trả nợ cho nguyên đơn nữa. Nguyên đơn đã nhiều lần nhắc ông Phúc trả nợ đến hạn thanh toán nhưng ông Phúc vẫn không thanh toán nợ cho nguyên đơn. Vì ông Phúc vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu ông Phúc phải thanh toán toàn bộ hợp đồng theo phương thức sau:
- Trả toàn bộ khoản nợ gốc còn lại: 25.300.000 đồng
- Trả toàn bộ khoản nợ lãi:
+ Lãi trong hạn: 2.279.230 đồng
+ Lãi quá hạn: 8.684.526 đồng
Tổng số tiền ông Phúc phải thanh toán là 36.263.753 đồng. Yêu cầu ông Phúc thanh toán toàn bộ số tiền 36.263.753 đồng một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 30/7/2020 cho đến khi ông Phúc thanh toán hết nợ.
Bị đơn ông Lê Thanh Phúc mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, không có lời khai hoặc yêu cầu của ông Phúc trong hồ sơ vụ án. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 4 đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng ông Phúc vẫn không có mặt tại Tòa án để làm việc và tham gia hòa giải. Do đó, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án vá quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung của vụ án, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các đương sự và diễn biến tại phiên tòa có căn cứ xác định giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông và ông Lê Thanh Phúc có xác lập quan hệ hợp đồng vay tài sản, theo đó, ông Lê Thanh Phúc có vay và còn thiếu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông số tiền nợ gốc và lãi là 36.263.753 (ba mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi ba) đồng. Do ông Lê Thanh Phúc vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông có đơn khởi kiện ông Lê Thanh Phúc để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phúc phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ vay còn thiếu. Đây là quan hệ tranh chấp về “Hợp đồng vay tài sản”. Tại thời điểm thụ lý vụ án, ông Lê Thanh Phúc có nơi cư trú tại địa chỉ số 129F/186/12A/2 Bến Vân Đồn, Phường 4, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4.
Bị đơn ông Lê Thanh Phúc mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Phúc mặc dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Phúc.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung: Đối với yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0013/2016/HĐTD-CN ngày 27/01/2016 và Khế ước nhận nợ số 0013/2016-OCB/KƯNN-CN ngày 28/01/2016 ký kết giữa nguyên đơn và ông Phúc, nguyên đơn đã giải ngân số tiền vay bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của ông Phúc. Sau khi thanh toán được 10 kỳ trả nợ cho nguyên đơn với số tiền là 9.700.000 đồng thì ông Phúc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến nay. Nguyên đơn đã nhiều lần nhắc ông Phúc trả nợ đến hạn thanh toán nhưng ông Phúc vẫn không thanh toán nợ cho nguyên đơn.
Bị đơn ông Lê Thanh Phúc vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, vì vậy không có lời khai tại Tòa án. Tuy nhiên, căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0013/2016/HĐTD-CN ngày 27/01/2016 và Khế ước nhận nợ số 0013/2016-OCB/KƯNN-CN ngày 28/01/2016 ông Phúc đã ký kết với nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định ông Phúc đã kí kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông để vay số tiền là 35.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 7,91%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Trả nợ gốc liên tiếp trong 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 970.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.050.000 đồng; trả nợ lãi định kỳ vào ngày 02 hàng tháng theo dư nợ thực tế. Thực hiện hợp đồng, ông Phúc đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho nguyên đơn 10 lần tiền nợ gốc với số tiền là 9.700.000 đồng. Vì ông Phúc đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/11/2018, nguyên đơn đã thông báo về việc chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn cho ông Phúc. Tổng số tiền ông Phúc phải thanh toán là 36.263.753 đồng (trong đó nợ gốc là 25.300.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.279.230 đồng và nợ lãi quá hạn là 8.684.526 đồng). Nguyên đơn yêu cầu ông Phúc thanh toán toàn bộ số tiền 36.263.753 đồng một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 30/7/2020 cho đến khi ông Phúc thanh toán hết nợ.
Do đó, căn cứ các Điều 90, 91, 94, 95 và Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Thanh Phúc phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi còn thiếu tính đến ngày 29/7/2020 là 36.263.753 (ba mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi ba) đồng, trong đó nợ gốc là 25.300.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.279.230 đồng và nợ lãi quá hạn là 8.684.526 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 30/7/2020, ông Phúc còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh tương ứng với số tiền còn nợ tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0013/2016/HĐTD-CN ngày 27/01/2016 đã ký với nguyên đơn cho đến khi thanh toán hết nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Lê Thanh Phúc phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 36.263.753 x 5% = 1.813.188 đồng; Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp là 799.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0024467 ngày 16/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 203, Điều 207, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 90, 91, 94, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ các Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Lê Thanh Phúc phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi còn thiếu tính đến ngày 29/7/2020 là 36.263.753 (ba mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi ba) đồng, trong đó nợ gốc là 25.300.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.279.230 đồng và nợ lãi quá hạn là 8.684.526 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 30/7/2020, ông Phúc còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh tương ứng với số tiền còn nợ tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0013/2016/HĐTD-CN ngày 27/01/2016 đã ký với nguyên đơn cho đến khi thanh toán hết nợ.
Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh Phúc phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.813.188 (một triệu tám trăm mười ba nghìn một trăm tám mươi tám) đồng.
Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 799.000 (bảy trăm chín mươi chín nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0024467 ngày 16/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
3. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo của các đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Q.4; - Chi cục THADS Q.4; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |